Thứ Ba, 8 tháng 7, 2014

Đức tin và thể thao - Trầm Thiên Thu - VRNs

World Cup 2014 tại Brazil - Ảnh minh họa

VRNs (08.08.2014) – Sài Gòn - Đúng 2 giờ sáng (giờ Việt Nam) ngày 14-7-2014, những người hâm mộ túc cầu sẽ được chứng kiến trận tranh tài quyết liệt giữa hai đội túc cầu xứng đáng nhất, và có thể biết được đội nào là đội vô địch giải World Cup 2014, diễn ra tại sân vận động Rio de Janeiro (Brazil).
Tượng Chúa Giê su tại Thành phố Rio De Janeiro, Brazil  - Ảnh minh họa
World Cup (Cúp Thế Giới) là sự kiện thể thao lớn của hành tinh chúng ta. Thể thao và Đức Tin có liên quan gì với nhau?
Đức Tin và Thể thao xem chừng “ngược chiều” nhau, vì một bên là tâm linh và một bên là thể lý. Thế nhưng lại không hề có gì đối lập với nhau. Thật kỳ lạ!
Thể dục là dạng vận động nhẹ. Thể thao là dạng vận động mạnh. Thể dục và thể thao có hai dạng: Thể lý và tinh thần. Với các Kitô hữu, thể thao còn có một dạng khác “cao cấp” hơn, đó là thể thao tâm linh. Dạng nào cũng cần khổ luyện mới có thể đạt được mức cao nhất.
FIFA World Cup 2014 tại Brazil - Ảnh minh họa
Thể thao là hoạt động thể chất hoặc kỹ năng dành cho mục đích giải trí, thi đấu, mong đạt đến “đỉnh cao”, chủ yếu rèn luyện bản thân, tăng cường sức khỏe. Trong đời sống xã hội hiện đại, thể thao là yếu tố quan trọng không chỉ để giữ gìn sức khỏe mà còn là phục vụ các mục đích hữu ích khác.
Để tăng cường sức khỏe, có một số môn thể thao được nhiều người cho là giúp chống lại các loại bệnh tật, tạo sức chịu đựng dẻo dai. Ví dụ, chạy bộ theo mức độ tăng dần có thể giảm khả năng mắc các bệnh về tim mạch lúc về già. Đối với trẻ em trong độ tuổi đang lớn, thể thao giúp phát triển thể chất và làm tăng chiều cao.
14070800
Ngoài phạm vi sức khỏe, các môn thể thao đồng đội cũng rèn luyện cho tinh thần đoàn kết, kỹ năng hợp tác. Trong bất kỳ môn thể thao đồng đội nào, yếu tố đoàn kết là quan trọng nhất để giành chiến thắng. Ví dụ, trong môn túc cầu (bóng đá), các cầu thủ phải hiểu ý nhau trong lúc chuyền bóng để ghi bàn. Nhược điểm (điểm yếu) của các đội túc cầu dễ bị đối phương lợi dụng là sự thiếu đoàn kết, lo “miếng” riêng cho cá nhân. Trong môn đua xe đạp cũng vậy. Vì thế, một trong các cách rèn luyện tinh thần đồng đội là chơi các môn thể thao đồng đội.

Thế Vận Hội (Olympic, Đại hội Thể thao Thế giới) là cuộc tranh tài trong nhiều môn thể thao giữa các quốc gia trên toàn thế giới. Thế Vận Hội gồm Thế Vận Hội Mùa Hè và Thế Vận Hội Mùa Đông được tổ chức xen kẽ nhau hai năm một lần (vào các năm chẵn). Đây là một đại hội thể thao không chỉ là đua sức về thể lực mà còn mang ý nghĩa biểu trưng cho tinh thần đoàn kết và hòa bình của nhân loại.
Thế Vận Hội bắt nguồn từ các cuộc thi đấu thể thao thời Hy Lạp cổ đại có từ năm 776 trước công nguyên cho đến khi Hoàng đế La Mã là Theodosius I cấm (năm 394 trước công nguyên). Thế Vận Hội hiện đại được Nam tước Pierre Frèdy de Coubertin tổ chức lần đầu tiên vào cuối thế kỷ XIX. Ủy Ban Olympic Quốc Tế (IOC – International Olympic Commitee) đã trở thành cơ quan chủ quản của Phong trào Olympic, với Hiến chương Olympic xác định cấu trúc và cơ quan có thẩm quyền.
Vận động viên chỉ tay lên trời ngỏ ý Ta ơn Chúa! - Ảnh minh họa
Thế Vận Hội Mùa Hè được diễn ra (bốn năm một lần) từ năm 1896, trừ những năm xảy ra thế chiến (như thế chiến II). Thế Vận Hội Mùa Đông được thành lập vào năm 1924. Mới đầu nó được tổ chức cùng năm với Thế Vận Hội Mùa Hè, nhưng từ năm 1994, Thế Vận Hội Mùa Đông và Thế Vận Hội Mùa Hè diễn ra xen kẽ nhau hai năm một lần.
Chúng ta còn có Á Vận Hội (Asiad hoặc Asian Games, Đại hội Thể thao Á châu), tổ chức bốn năm một lần, với sự tham dự của các đoàn vận động viên thuộc Á châu. Giải thể thao này do Hội Đồng Olympic Á châu (OCA – Olympic Council of Asia) tổ chức, dưới sự giám sát của Ủy ban Olympic Quốc tế, và được coi là sự kiện thể thao lớn thứ hai trên thế giới, chỉ đứng sau Thế Vận Hội.
"Football is God's Gift Humanity" - Ảnh minh họa
Có nhiều môn thể thao (bóng đá, bóng chuyền, bóng rổ, bơi lội, ném dĩa, cử tạ, marathon,…), nhưng có lẽ hấp dẫn nhất vẫn là môn túc cầu, hấp dẫn cả người chơi lẫn người xem – dù là xem qua màn ảnh nhỏ. Có lẽ vì thế mà môn túc cầu được mệnh danh là môn thể thao vua. Ở đây, chúng ta cũng chỉ đề cập môn túc cầu. Thật vậy, túc cầu có nhiều người yêu thích tới mức cuồng nhiệt như các tín đồ tôn giáo, và người ta vui đùa gọi họ là “tín đồ của túc cầu giáo”.
Trong các giải túc cầu, nổi bật nhất là giải World Cup. Brazil là quốc gia tổ chức World Cup lần thứ 20 của FIFA vào mùa hè năm 2014, diễn ra từ 12-6 tới 13-7-2014, với các đội bóng của 32 quốc gia tham dự, trong đó có 13 quốc gia thuộc Âu châu. Tất cả có 64 trận đấu. Brazil cũng là nước đăng cai World Cup năm 2007 sau khi FIFA quyết định tổ chức tại Nam Mỹ lần đầu tiên từ năm 1978 tại Argentina.
Giới hâm mộ thể thao đã khoác lên Tượng Chúa Giê su chiếc áo Messi 10 ( Argentina)- Ảnh minh họa
Có 12 thành phố được chọn để tổ chức các trận đấu lần này: Belo Horizonte, Brasilia, Cuiaba, Curitiba, Fortaleza, Manuas, Natal, Porto Alegre, Recife, Salvador, Sao Paulo và Rio de Janeiro, nơi trận chung kết sẽ thi đấu tại sân vận động Estádio Mário Filho, thường được gọi là Maracanã. Sân vận động này đã diễn ra trận chung kết World Cup năm 1950. Cả 4 trận chung kết World Cup trước đều diễn ra tại Nam Mỹ – Uruguay năm 1930, Brazil năm 1950, Chile năm 1962, và Argentina năm 1978. Các đội vô địch cũng thuộc châu lục đó.
Nói đến quốc gia Brazil, chắc hẳn chúng ta còn nhớ vua bóng đá Pelé (Edson Arantes do Nascimento, sinh 23-10-1940), một trong những cầu thủ bóng đá nổi tiếng nhất trong lịch sử của bộ môn này, đặc biệt là cú sút lọt lưới “độc nhất vô nhị” từ giữa sân (60m). Được phát hiện từ khi còn rất trẻ, Pelé bắt đầu chơi cho Câu lạc bộ Santos Futebol khi mới 15 tuổi, vào đội tuyển quốc gia khi 16 tuổi và lần đầu đoạt World Cup khi mới ở tuổi 17. Dù có nhiều lời mời từ các câu lạc bộ của Âu châu, Pelé vẫn rất trung thành với câu lạc bộ của mình và đã chơi cho câu lạc bộ này trong suốt hai thập kỷ cho đến năm 1975, khi ông từ giã sân cỏ.
Ông là cầu thủ ghi được nhiều bàn thắng nhất cho Đội tuyển Túc cầu Quốc gia Brasil và ông cũng là người duy nhất trong lịch sử môn thể thao vua giành được 3 World Cup dưới cương vị một cầu thủ. Ông cũng là cầu thủ duy nhất ghi được gần 1300 bàn thắng trong suốt sự nghiệp cầu thủ. Cụ thể là 1281 bàn thắng trong 22 năm thi đấu.
Cựu cầu thủ bóng đá Pele nổi tiếng của Brazil - Ảnh minh họa
Chiếc áo số 10 nổi tiếng của Pelé đã trở thành chiếc áo truyền thống của các tiền vệ (trung phong) và tiền đạo có lối chơi tấn công kỹ thuật và sáng tạo. Từ đó, đã có không ít cầu thủ ngôi sao của xứ sở Samba khoác lên mình chiếc áo số 10 kỳ diệu.
Thể thao có vài dạng: Thể thao thể lý, thể thao trí tuệ, thể thao tâm linh. Thể thao nào cũng cần có niềm tin mãnh liệt. Có tự tin thì mới khả dĩ chiến thắng. Thể thao (nói chung), túc cầu (nói riêng), quan trọng là có TINH THẦN TẬP THỂ, TINH THẦN THƯỢNG VÕ và TINH THẦN ĐOÀN KẾT. Trong môn túc cầu, mỗi đội có 11 cầu thủ luôn phải chung một nhịp, phải đồng tâm nhất trí, dù mỗi người có bổn phận khác nhau – người tấn công, người phòng thủ, người giữ khung thành. Đó là thể hiện niềm tin lẫn nhau, và cũng cần niềm tin tâm linh nữa.
FIFA World Cup 2014 tại Brazil - Ảnh minh họa
Nếu để ý, chúng ta có thể nhận thấy rằng, khi ra sân cỏ để thi đấu, một số cầu thủ đã thể hiện Đức Tin Công giáo của mình. Cầu thủ Park Ji Sung (Hàn quốc) đã làm dấu Thánh Giá, còn cầu thủ Wayne Rooney (Anh quốc) đeo chuỗi Mân Côi. Rất tiếc là chẳng thấy cầu thủ người Việt nào có động thái thể hiện Đức Tin như vậy!
Ngay trong thời gian thi đấu, một số cầu thủ vẫn thể hiện niềm tin Kitô, biết tín thác vào Thiên Chúa, thật tuyệt vời biết bao! Đó là những tấm gương sáng để chúng ta noi theo, dù ở nơi đâu và lúc nào thì chúng ta vẫn luôn cần Thiên Chúa, vì Chúa Giêsu đã xác định: “Không có Thầy, anh em chẳng làm gì được” (Ga 15:5).
Có lẽ Kinh Thánh chỉ nhắc tới từ “thể thao” một lần: “Trong cuộc đại hội thể dục thể thao, tổ chức bốn năm một lần ở Tia, có nhà vua hiện diện, ông Gia-xon, một người đê tiện đã cử một phái đoàn khán giả với tư cách là những người phò vua An-ti-ô-khô từ Giê-ru-sa-lem đến mang theo ba trăm quan tiền để dâng lễ kính thần Hê-rắc-lê. Nhưng các người mang tiền xin đừng dùng số bạc ấy để tế lễ, vì việc đó không thích hợp, mà lại xin dùng vào một khoản khác. Vậy số bạc ấy lẽ ra phải được dùng vào vào việc dâng lễ kính thần Hê-rắc-lê, theo ý người gửi, nhưng do lời yêu cầu của những người mang tiền, người ta lại đem dùng vào việc đóng tàu chiến” (Mcb 4:18-20).
Kinh Thánh cho biết Đại hội Thể dục Thể thao được tổ chức bốn năm một lần, phải chăng các giải thể thao ngày nay cũng tổ chức theo cái “khoảng thời gian” đó? Thiết tưởng là rất có thể lắm!
Thánh Phaolô không nói về thể thao trần gian nhưng nói về thể thao tâm linh, dù không nói rõ là thể thao: “Ngày đời tôi trôi nhanh hơn kẻ chạy đua, nó qua mau, mà không thấy hạnh phúc” (G 9:25). “Chạy đua” là một dạng thể thao. Thánh Phaolô còn nói về thể thao theo dạng khác: “Trong cuộc chạy đua trên thao trường, tất cả mọi người đều chạy, nhưng chỉ có một người đoạt giải. Anh em hãy chạy thế nào để chiếm cho được phần thưởng. Phàm là tay đua thì phải kiêng kỵ đủ điều, song họ làm như vậy là để đoạt phần thưởng chóng hư; trái lại chúng ta nhằm phần thưởng không bao giờ hư nát. Vậy tôi đây cũng chạy như thế, chứ không chạy mà không xác tín; tôi đấm như thế, chứ không phải đấm vào không khí. Tôi bắt thân thể phải chịu cực và phục tùng, kẻo sau khi rao giảng cho người khác, chính tôi lại bị loại” (1 Cr 9:24-27).
Phàm việc gì cũng cần khổ luyện, đặc biệt là thể thao. Chúng ta thấy các vận động viên có sức dẻo dai, nhưng chúng ta có biết đâu rằng họ phải ngày đêm khổ luyện mới có sức khỏe như vậy. Và Đức Tin cũng vậy, không thể một sớm một chiều mà có được Đức Tin vững mạnh và sâu sắc, mà Đức Tin đó phải được tôi luyện hằng ngày qua nhiều thử thách gay go lắm. Lửa thử vàng, gian nan thử sức. Và Đức Tin cũng vậy, nếu không thì Đức Tin đó sẽ èo uột, dễ bị đuối sức, dễ bị hoang mang, dễ bị rạn nứt,… thậm chí là có thể bị mất Đức Tin!
Chúa Giêsu cũng không hề nói về thể dục hoặc thể thao, nhưng Ngài có cách nói rất đặc biệt, vừa như lời khuyên vừa như mệnh lệnh: “Anh em hãy nên hoàn thiện như Cha anh em trên trời là Đấng hoàn thiện” (Mt 5:48). Ngài bảo chúng ta phải “hoàn thiện như Cha” là Ngài bảo chúng ta không ngừng “chạy đua”, là kiên tâm “thi đấu”, để cuối cùng ai cũng phải đạt được chiến thắng là “Giải Trường Sinh”, là “Chiếc Cúp Nước Trời”.
Giải chạy đua Marathon tại Ha Long Bay - Ảnh minh họa
Chúng ta đang thuộc Giáo hội chiến đấu trên cuộc lữ hành trần gian về Thiên Quốc, cuộc chạy marathon này dài hay ngắn tùy mỗi người phải chạy trong bao nhiêu năm theo Thánh Ý Chúa. Có người chỉ chạy 1 ngày, có người chạy vài tháng, có người chạy vài năm, có người chạy vài chục năm, có người chạy cả trăm năm. Nhưng mục đích cuối cùng vẫn chỉ là Siêu Cúp Cứu Độ mà chính Đức Giêsu Kitô trao cho mỗi người.
Ước mong rằng, khi vui mừng giải trí và tận hưởng không khí sôi nổi của World Cup 2014, mỗi chúng ta cũng được nhắc nhớ về cuộc đua tâm linh trên Hành Trình Đức Tin Công giáo. Hãy ngước nhìn lên Biểu Tượng Đức Tin, Biểu Tượng Chiến Thắng và Biểu Tượng Hằng Sinh của chúng ta là Thập Giá Đức Giêsu Kitô, đồng thời có thể xác định như Thánh Phaolô: “Vinh quang của tôi là Thập Giá Đức Kitô – MEA GLORIA EST CRUX CHRISTI (Gl 6:14).
Đây là “nước tăng lực” mà Thánh Phaolô cho chúng ta uống: “Một chút gian truân tạm thời trong hiện tại sẽ mang lại cho chúng ta cả một khối vinh quang vô tận, tuyệt vời. Vì thế, chúng ta mới không chú tâm đến những sự vật hữu hình, nhưng đến những thực tại vô hình. Quả vậy, những sự vật hữu hình chỉ tạm thời, còn những thực tại vô hình mới tồn tại vĩnh viễn” (2 Cr 4:17-18).
Sân cỏ cũng tương tự sân đời, cam go lắm! Trong một chương trình của Đài Chân Lý Á Châu (Philippines) có phát sóng bài thơ “Bóng đá và Cuộc đời”, trong đó có bốn câu cuối như sau:
Con chạy hàng tiền đạo
Chiến đấu với trần gian
Xin Chúa làm hậu vệ
Che chắn khung-thành-con (*)
Vâng, chúng ta rất cần có Chúa, không chỉ vì chúng ta không biết theo ai nếu chúng ta bỏ Ngài (x. Ga 6:68), mà còn vì chúng ta chẳng làm được gì nếu không có Ngài (x. Ga 15:5).
Lạy Thiên Chúa, xin giúp chúng con biết không ngừng trau dồi “sức khỏe Đức Tin” để thi đấu kiên trì và không biết mệt mỏi. Xin Ngài thương giúp chúng con nên thánh hằng ngày để xứng đáng lãnh nhận Phần Thưởng Hằng Sinh. Xin Đức Thánh Maria, Đức Thánh Giuse, chư thánh và các linh hồn cầu thay nguyện giúp. Chúng con cầu xin nhân danh Thánh Tử Giêsu Kitô, Đấng cứu độ chúng con. Amen.
TRẦM THIÊN THU
(*) Nghe ca khúc “Bóng Đá và Cuộc Đời” của Ns Sơn Vinh tại http://www.baicamoi.com/?p=56856.

Thứ Năm, 3 tháng 7, 2014

Gia đình vẫn mạnh hơn những quyền lực muốn huỷ diệt gia đình


7/3/2014 10:03:22 AMGia đình là tế bào cơ bản của xã hội con người”: Đức Tổng giám mục Silvano Tomasi đã lặp lại tuyên ngôn trên đây của Thánh giáo hoàng Gioan Phaolô II, trong bài phát biểu tại kỳ họp thứ 26 của Hội đồng Nhân quyền của Liên hiệp quốc hôm 24-06 vừa qua.
SilvanoMariaTomasi.jpg  
Trong bài phát biểu, Đức Tổng giám mục Tomasi, Quan sát viên thường trực của Toà Thánh tại  Liên hiệp quốc, nhấn mạnh rằng gia đình vẫn cho thấy một “sức sống mạnh mẽbất kể các cuộc tấn công của những người đang tìm cách huỷ diệt gia đình [vì coi gia đình] như là một tàn tích của quá khứ, hay một trở ngại cho việc giải phóng cá nhân, cho việc xây dựng một xã hội hạnh phúc, bình đẳng và tự do hơn.

Tiếp theo, Đức Tổng giám mục Tomasi nhấn mạnh mối ràng buộc hỗ tương” giữa gia đình và xã hội, “liên kết với nhau bằng những mối dây sinh động  hữu cơ, và bổ sung cho nhau trong việc bảo vệ và thăng tiến thiện ích của cá nhân  của nhân loại.



Phẩm giá và quyền lợi của cá nhân không bị giảm đi vì sự chú tâm đến gia đìnhNgược lại, hầu như ai cũng tìm được sự bảo vệ, hậu thuẫnvà sức mạnh từ những thành viên khác trong một gia đình lành mạnh, xây dựng trên hôn nhân giữa một người nam  một người nữ.

Cần phải đặc biệt quan tâm đến trẻ emlà những người cần một môi trường gia đình hài hoà cho việc giáo dục và đào tạo chúng với gương mẫu của cả người cha và người mẹChỉ trong gia đình tự nhiêncác thế hệ mới mới có thể học được những giá trị như tình yêu, giáo dục, nâng đỡ nhau và thông truyền món quà của sự sống. Đức Tổng giám mục Tomasi nói:Nhận thức này được mọi nền văn hóa chấp nhận trong suốt lịch sửvà ngài nhắc lại việc bản Tuyên ngôn Nhân quyền công nhận “các quyền lợi và nhiệm vụ độc đáo, sâu sắc và không khoan nhượng của gia đình được xây dựng trên hôn nhân giữa một người nam và một người nữ.



Kết luậnngài lên tiếng kêu gọi không được “chia cắt hay hay đặt gia đình ra bên lề”mà phải “bảo vệ và thăng tiến gia đình, không chỉ về phía Nhà nước mà còn về phía toàn xã hội. Gia đình và hôn nhân đòi hỏi sự dấn thân dứt khoát của mỗi người bởi vì bắt đầu từ gia đình  hôn nhân mới có câu trả lời đầy đủ cho những thách đố của hiện tại và những rủi ro trong tương lai.


(Minh Đức, WHĐ 02.07.2014)
http://conggiao.info/news/810/23613/gia-dinh-van-manh-hon-nhung-quyen-luc-muon-huy-diet-gia-dinh.aspx

Thứ Bảy, 28 tháng 6, 2014

Tâm tình Kitô Giáo của các thủ môn Giải Túc Cầu Thế Giới


6/28/2014 12:49:11 PM“Điên mới làm thủ môn”, câu truyền tụng trong giới túc cầu thế giới này đủ nói lên thân phận người thủ môn của môn thể thao nổi tiếng nhất địa cầu.
Dù sao, giữ vai trò này không dễ chút nào vì phải đương đầu với phần lớn áp lực của trận đấu, hơn hẳn mọi cầu thủ khác: một sơ hở nhỏ hay một giây phút bất cẩn cũng đủ lật ngược hẳn số phận đội nhà.
 
World-Cup-2014.jpg

Ấy thế nhưng, tại giải Túc Cầu Thế Giói năm nay tại Ba Tây, điều nổi bật nhất đối với các thủ môn xem ra không phải là chuyện điên hay không điên mà là chuyện tôn giáo. Thủ môn các đội như Croatia, Nigeria và Costa Rica nhiều lần thổ lộ rằng họ tìm thấy nơi đức tin Kitô Giáo một nguồn tài nguyên thiêng liêng tuyệt vời, không những có ích cho cuộc sống hàng ngày mà cả ở khung thành nữa.

Không phải là việc trùng hợp khi tôn giáo đóng một vai trò chủ yếu đối với nhiều thủ môn: có lẽ sức mạnh cầu nguyện vốn giúp họ bớt căng thẳng và giúp họ tập trung, một điều hết sức cần thiết.



Vincent Enyeama, thủ môn đội Nigeria, chẳng hạn, luôn sống đức tin của anh một cách nồng đậm đến nỗi đồng đội tặng anh biệt danh “ông mục sư”. Thực thế, Enyama thường khuyến khích toàn đội của anh cầu nguyện chung trước mỗi bữa ăn, mổi buổi tập dượt và mỗi trận đấu. Trong một cuộc phỏng vấn, huấn luyện viên của anh thú nhận rằng nếu Enyama “không trở thành một thủ môn, chắc chắn anh ta sẽ dễ dàng mở được một nhà thờ”.

Sau một trận tranh giải AFCON (giải các quốc gia Phi Châu), trong đó, Enyama đã giữ cho đội nhà khỏi thua bằng một cú cứu tuyệt vời, được các nhà báo hỏi nhờ đâu anh thực hiện được một tuyệt chiêu như thế, Enyama trả lời: “Các Thiên Thần của Chúa giúp tôi, các ngài hướng dẫn các bàn tay của tôi vươn ra đúng chỗ để chặn trái banh”. Nghiệp thủ môn của Enyama đáng lý ra đã kết thúc sớm vào năm 2004 khi anh bị tai nạn xe hơi rất nặng, nhưng anh cảm tạ Chúa vì biến cố này chỉ làm anh xây xát qua loa.




Một người sùng đạo khác là Stipe Pletikosa. Mỗi lần giữ khung thành, người thủ môn Croatia này đều mặc chiếc áo thung vẽ hình Đức Mẹ Mễ Du và trước khi trận đấu bắt đầu, anh đều tập chú vào việc cầu nguyện cho tới giây phút cuối cùng. Chính tại Mễ Du, tháng 5 năm ngoái, đội Croatia đã huấn luyện một tuần lễ trước khi chơi các trận xếp hạng để được dự Giải Thế Giới.

Trong một cuộc phỏng vấn, người thủ môn của đội Croatia này cho hay: đức tin đã giúp anh duy trì được tác phong bình thản và tránh được điều anh gọi là “hạnh phúc giả tạo”, tức những thái quá vốn là đặc điểm của nhiều cẩu thủ túc cầu nổi tiếng khác. Pletikosa nói thêm: thay vì tìm sức mạnh ở tiền bạc hoặc tiếng tăm, anh trở nên mạnh mẽ hơn nhờ mối liên hệ của anh với Thiên Chúa. Anh nói: “Cầu nguyện là tâm điểm khế ước của tôi với Thiên Chúa. Cầu nguyện đem lại bình an cho tôi”.




Về phần mình, Keylor Navas của đội Costa Rica, trong một cuộc phỏng vấn, thú thực rằng trước mỗi trận đấu, anh đều cầu nguyện với Chúa, xin Người đặt hai thiên thần để giữ hai khung thành của anh. Navas nói rằng sức mạnh của cầu nguyện giúp anh tập trung và bỏ ngoài tai những la ó và nhục mạ đến từ người ái mộ.

Thêm vào đó, thủ môn Costa Rica này hiện còn hợp tác với hiệp hội “Vida Nova” (Đời Sống Mới) tại Valencia, là hiệp hội chuyên trợ giúp những người kém may mắn. Hiệp hội này có một đội túc cầu riêng tên là “Câu Lạc Bộ Thể Thao Phúc Âm”, một hội, nhờ thể thao, đã có thể đóng góp nhiều cho các hoạt động bác ái.




Trong một cuộc phỏng vấn, Navas mô tả cách sống đức tin của anh như sau: “Đối với tôi, Thiên Chúa phải đến đầu tiên. Trước mỗi trận đấu, tôi đều qùy cầu nguyện, tôi dang rộng cánh tay và cầu nguyện… Đoạn Sách Thánh tôi ưa thích là Thư Galát 1:10 là đoạn nói rằng: “Nếu tôi vẫn cứ cố gắng làm vui lòng người ta, tôi không thể phục vụ Chúa Kitô được”. Nhờ thế, tôi không mất điềm tĩnh. Thiên Chúa ban cho tôi sức khỏe và một công việc tuyệt vời. Nên tôi không đứng im mà chờ cho sự việc xẩy tới. Tôi làm việc không ngừng và cố hết sức để tự cải thiện mình, giống như toàn đội quốc gia của tôi. Thái độ của chúng tôi được tạo nên nhờ đức tin và đức cậy: không có chúng, bạn chẳng đi tới đâu”.

Tuy nhiên, việc các thủ môn thi hành “sứ mệnh của Chúa” không hẳn là một điều mới mẻ. Thủ môn Á Căn Đình, Carlos Roa, một năm sau giải Pháp Quốc năm 1998 đã xin nghỉ một năm để phục vụ Giáo Hội Cơ Đốc Phục Lâm. Điều chắc chắn là các thủ môn Kitô Giáo tham dự Giải Thế Giới năm nay tại Ba Tây tìm được chỗ thích hợp để cầu nguyện, vì Ba Tây là một nước, hơn hẳn bất cứ nước nào khác, luôn cố gắng tổng hợp thể thao với việc truyền bá phúc âm.

Thực vậy, chính tại Ba Tây người ta thấy phong trào “Các Vận Động Viên của Chúa Kitô”, một hiệp hội nhằm mục đích hội tụ mọi thể tháo gia có khuynh hướng phúc âm. Ngoài ra, chính ngành túc cầu Ba Tây cũng có gốc rễ Kitô Giáo. Theo tạp chí Ba Tây “Passos”, các cha Dòng Tên là những người đầu tiên đưa túc cầu vào các trường học vì họ nghĩ “nhiều bài học luân lý phát sinh từ tinh thần thể thao”.



Vũ Văn An

Thứ Năm, 26 tháng 6, 2014

Chủ quyền Hoàng Sa, Trường Sa theo ghi chép của các giáo sĩ phương Tây - Phạm Huy Thông

LTCGVN (26.06.2014)


Theo giaó sử thì giáo sĩ nước ngoài đầu tiên đặt chân đến Việt Nam là Francesco Buzomi (1575-1639), người Ý, tới Cửa Hàn ngày 18-1-1615. Sở dĩ, Việt Nam chưa được chú ý đến sớm vì do có sự phân chia thế giới cho Bồ Đào Nha và Tây Ban Nha qua sắc chỉ của Giáo hoàng Alexandre VI năm 1494 mà Việt Nam thuộc quyền khai thác của người Bồ Đào Nha. Nhưng một số giáo sĩ người Bồ đến nước ta lại không biết tiếng bản xứ - một thứ tiếng mà người ngoại quốc mô tả là rất khó học vì “líu lô như chim hót” nên đành chịu thất bại quay về. Những giáo sĩ của dòng Tên có khả năng ngoại ngữ lại chỉ nhắm đến Nhật Bản, Trung Quốc, Triều Tiên. Chỉ đến khi hoàng đế Nhật Bản Daifusama ra lệnh trục xuất các giáo sĩ và cấm đạo gắt gao năm 1614, các giáo sĩ nước ngoài mới chạy về Ma Cao và từ đó mới tìm đến Việt Nam để rao giảng đạo Công Giáo. Đã có nhiều nghiên cứu về đóng góp của đạo Công Giáo với văn hóa Việt và một trong những đóng góp đó là những ghi chép của giáo sĩ nước ngoài về chủ quyền của Việt Nam với hai quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa.



Ai cũng biết rằng, dưới thời phong kiến, nước ta hầu như không có tên trên bản đồ thế giới. Giáo sĩ Alexandre de Rhodes (Đắc Lộ) cũng ngạc nhiên khi đặt chân lên Việt Nam. Ông viết:

“Tôi không biết vì sao đất nước rất xinh đẹp này lại không được biết tới. Vì sao các nhà địa lý châu Âu không biết tí gì và cũng không ghi trên bản đồ nào cả. Tuy họ chép đầy đủ tên các nước trên thế giới” (1).

Chính ông, người có công lớn trong việc xây dựng nên chữ quốc ngữ ngày nay khi công bố bộ 3 tác phẩm: Từ điển Việt- Bồ -La, Phép giảng tám ngày và Ngữ pháp tiếng Việt ở Rôma năm 1651 cũng đã kịch liệt chống lại các quan niêm sai lầm lúc đó như “ ngoài châu Âu ra thì hoàn toàn là man di mọi rợ” hay “ Trung Quốc là tất cà những gì đẹp đẽ nhất trái đất”. Ông đã nhiều lần ca ngợi đất nước, con người, xã hội Việt Nam. Ông viết:

“ Tôi có thể nói, họ chẳng thua gì các bác sĩ của ta và hơn nữa, trong một vài môn họ giỏi hơn ta nữa…Họ luôn dùng ba ngón tay để bắt mạch và thực ra họ rất thành thạo. Thuốc của họ không khó uống như của ta, hơn nữa không đắt tý nào bởi vì thứ đăt nhất cũng chằng giá hơn 5 xu… Pháp luật ở đây còn hơn cả các nước phương Tây vì không có giấy tờ rườm rà, nghi thức lôi thôi làm tổn phí thời giờ và tiền bạc của đôi bên”(2).

Điều ngạc nhiên là ngay vị giáo sĩ đầu tiên khi đặt chân đến Việt Nam là F. Buzomi cũng đã có ghi chép về việc người Việt đã khai thác hải sản và quản lý Hoàng Sa. Ông viết:

“ Hải cảng đông nhất, nơi mà tấ cả những người ngoại quốc đều đến và cũng là nơi có hội chợ đông đúc là hải cảng thuộc tỉnh Quảng Nam. Chúa Đàng Trong cho người Nhật, người Hoa tự chọn một địa điểm thuận tiện để lập một thành phố chuyên cho việc buôn bán. Thành phố này gọi là Faifo tức Hội An…Thuyền trưởng các tàu buôn qua lại nơi này thích cập cảng Hội An hay những cảng gần thủ đô Huế. Những người đi biển của 3 cảng này (tức cảng Huế, Hội An và Đà Nẵng) là những người lão luyện nhất của quốc gia này và hàng năm có chuyến đi biển đến quần đảo và bãi đá lô nhô có tên Hoàng Sa (Paracels) nằm cách biển Đàng Trong khoảng 20-30 dặm” (3). 

Không ít người kể cả các nhà khoa học cũng nghĩ rằng Việt Nam bị đô hộ bởi Trung Quốc cả ngàn năm nên bị Hán hóa nhưng sau khi nghe những tài liệu nghiên cứu về Việt Nam của linh mục Leopold Cadiere, giáo sư Condominas đã phát biểu trong cuộc hội thảo “Tuần lễ dân tộc học tôn giáo” ở Luxembourg năm 1928:

“ Một dân tộc biết tiếp nhận vô vàn yếu tố Trung Hoa, bị áp đặt và thu nạp một cách tự nguyện, để dựng lên một thế giới của riêng mình, và giữ gìn bản sắc độc đáo của mình” (4).

Chính F. Buzomi cũng nhận ra sự khác biệt của tính cách và con người Việt Nam khác với các dân tộc quanh vùng. Ông viết:

“ Nhờ Khổng giáo, xã hội và gia đình Việt Nam có một tổ chức rất cao, người dân Việt Nam có những đức tính và phong tục rất đáng khâm phục…Người Việt không nghiêng về văn chương, tính tình không thâm hiểm như người Tầu… Cả về tầm thước, họ không cao như người Tầu, cũng không thấp như người Nhật, dễ nghe, dễ tin và nhiều mê tín nhưng người dân Việt dễ nhận ra lẽ phải, không kiêu căng hay tự tôn như người Tầu” (5).

Năm 1511, một thuyền buôn của người Bồ Đào Nha do thuyền trưởng Fernad Piado cùng với một giáo sĩ dòng Tên đã ghi lại chuyến công du qua biển Đông. Ghi chép này được xuất bản trong cuốn “Du ký Feraginacao”, xuất bản ở Lisbon năm 1614. Trong sách Piado đã mô tả quần đảo Hoàng sa khá chi tiết mà ông gọi là Pulo Pracelar. Theo tiếng Bồ Đào Nha thì Pulo là cù lao còn Pracelar nghĩa là san hô. Trong cuốn nhật ký của tàu Amphitrite, khi chở các giáo sĩ dòng Tên qua quần đảo Paracels (tức Hoàng Sa) năm 1701 có ghi: “ Người ta cho nhổ neo, gió rất tốt. Và sau đó chỉ một thời gian đi đến quần đảo Paracels. Paracels là một đảo thuộc về An Nam. Đó là một bãi đá ngầm khủng khiếp có đến hàng trăm dặm, chạy dài xuống phía nam, chạy dọc theo bờ biến xứ Cochinchine (Đàng Trong), rất nhiều lần đã xảy ra các nạn đắm tàu ở đó” (6).

Có lẽ địa hình hiểm trở của bãi đá ngầm Hoàng Sa là nỗi ám ảnh với những thuyền buôn qua đây. Nhật ký tàu Amphitrite ghi tiếp: “ Tàu Amphitrite là tàu đầu tiên hành trình đến Trung Quốc suýt bị đắm. Nhiều chỗ cạn chỉ có 4-5 sải nước. Thoát được nguy hiểm ở đây thì chỉ có phép lạ. Bị đắm tàu trên những tảng đá khủng khiếp đó hoặc bị lạc phương hướng khi không còn một một nguồn dự trữ nào thì cũng nguy hiểm như nhau mà thôi” (7).

Một giáo sĩ tên là Jean Baptiste Shaipeau (1769-1825) được vua Gia Long yêu quý đặt cho một tên Việt là Nguyễn Văn Thắng trong cuốn hồi ký có tên là “ La mémoire sur la Cochinchine” đã viết:

“ Nước Cochinchine ( tức An Nam) mà nhà vua bây giờ xưng đế hiệu Hoàng đế gồm xứ Đàng Trong, xứ Đông Kinh, một phần xứ Cao Miên, một vài đảo có dân cư không xa bờ và quần đảo Paracels hợp thành bởi những bãi đá nhỏ, đá ngầm và một số mỏm đá không dân cư. Cho đến năm 1816, đương kim Hoàng đế mới lấy chủ quyền trên quần đảo ấy (8)”.

Giám mục Jean Louis Taberd trong cuốn biên khảo “ Univers historique et description de tous les peuples” xuất bản ở Paris 1833 ghi rõ: “ Chúng tôi không đi vào việc kê khai những đảo chính yếu của xứ An Nam. Chúng tôi chỉ xin lưu ý rằng, từ hơn 34 năm nay, quần đảo Paracels mà người Việt gọi là Cát Vàng hay Hoàng Sa cũng có nghĩa là cát vàng, gồm nhiều hòn đảo chằng chịt với nhau, lởm chởm những hòn đá nhô lên giữa những bãi cát làm cho những kẻ đi biển rất e ngại đã được chiếm cứ bởi người Việt xứ Đàng Trong… Có điều chúng tôi biết chắc chắn là hoàng đế Gia Long đã ngự tàu ra biển để chiếm cứ các đóa hoa lạ để cài lên vương miện của ngài. Vì vậy mà ngài xét thấy đã đến lúc phài thân chinh vượt biển để tiếp thêm quân đến Hoàng Sa vào năm 1816. Ngài đã trịnh trọng cắm lá cờ đỏ, lá cờ của xứ Đàng Trong”.

16 năm sau, tức năm 1849, J.L. Taberd lại cho công bố bằng tiếng Anh tại Ấn Độ: “Năm 1816, vua Gia Long đã tới và còn long trọng cắm cờ quốc gia của ông khẳng định chủ quyền trên các quần đảo này và hình như không một ai tranh giành với ông”. Chính vị giám mục này, trong cuốn từ điển tiếng Việt “Từ điển La- Việt” của ông in ở Serampore năm 1838 và cũng đã cho công bố tấm bản đồ rất có giá trị lịch sử. Đó là “ An nam đại quốc họa đồ”khổ 80 x 40 cm bằng 3 thứ tiếng Latinh, Quốc ngữ và Hán ngữ mà các nhà sử học nước ta hiện nay thường trưng dẫn để khẳng định chủ quyền Hoàng Sa, Trường Sa của Việt Nam (ảnh trên). Trong bản đồ trên được in bằng giấy chuyên dụng, giám mục J.L. Taberd đã ghi rất rõ vị trí của Paracels tức Cát Vàng là thuộc Việt Nam, trong khi đó lại không ghi đảo Hải Nam trên biển Đông. Một số giáo sĩ khác như A. de Rhodes cũng đã cho in bản đồ Việt Nam có ghi đảo Hoàng Sa mà lúc đó ông gọi là Pulosisi. Một giáo sĩ người Hà Lan trong bản đồ “Việt Nam với Đàng Ngoài, Đàng Trong và biển Đông với quần đảo Paracels” in trong Carte de L’Indochine 1658-1659 cũng ghi rõ Hoàng Sa (Paracels) là của Việt Nam.

Trên tạp chí Journal of Asiatic society of Bengal, số 6-7 tháng 9 năm 1837, giám mục J.L Taberd cũng viết: “ Paracel hoặc Paracels tức quần đảo này không có gì ngoài đá tảng và những cồn cát lớn,nó hứa hẹn nhiều bất tiện hơn là lợi. Vua Gia Long đã mở rộng lãnh thổ bằng cách chiếm thêm cái đảo buồn này. Năm 1816, ông đã long trọng cắm cờ và chính thức khẳng định chủ quyền các quần đảo đá này mà không một ai tranh giành với ông”.

John Barrow, một giáo sĩ quốc tịch Anh khi đi đến Trung Quốc, cũng đi qua vùng biển có quần đảo Hoàng Sa. Ông ghi lại trong hồi ký “ Một chuyến du hành tới Đàng Trong vào năm 1792-1793”, xuất bản ở London năm 1806 có đoạn: “ Các thuyền xứ Đàng Trong dùng vào việc buôn bán ven biển, chài lưới, đánh bắt hải sản và tổ yến. Họ ra tận quần đảo có tên là Paracels và thu được nhiều hải sản khác nhau”.

Tóm lại, các ghi chép của các giáo sĩ nước ngoài đã khẳng định Hoàng Sa, Trường Sa của Việt Nam từ rất sớm, chí ít cũng là từ thế kỷ XVII.

Chú thích:

1,2- A. de Rhodes: Hành trình truyền giáo, Tủ sách Đại Kết 1994, tr.143,tr.89

3- Theo trang Biendong.net, ngày 23-8-2013

4- L. Cadiere: Về văn hóa, tín ngưỡng truyền thống người Việt, Nxb VHTT 1997, tr.10

5- Nguyễn Hồng: Lịch sử truyền giáo ở Việt Nam, tập 1, Nxb Hiện Tại Sài Gòn 1951, tr.55

6,7- Dẫn theo Biendong.net ngày 23-8-2013

8- Dẫn theo Biengioilanhtho.gov.vn ngày 28-8-2013

Phạm Huy Thông
http://luongtamconggiaovietnam.blogspot.com/2014/06/chu-quyen-hoang-sa-truong-sa-theo-ghi.html

Chủ Nhật, 11 tháng 5, 2014

Đức Thánh Cha tiếp kiến 200 ngàn người thuộc giới học đường Italia


5/11/2014 11:45:55 AMVATICAN. Chiều ngày 10-5-2014, ĐTC đã gặp gỡ 200 ngàn người gồm các vị lãnh đạo, giáo chức và các học sinh các trường tại Italia, đặc biệt là các trường Công Giáo.
PopeFrancis-10May2014-4.jpg
AFP Photo/Andreas Solaro; AP Photo/Alessandra Tarantino; REUTERS/Max Rossi
Tham dự cuộc gặp gỡ này tại Quảng trường thánh Phêrô cũng có ĐHY Angelo Bagnasco, TGM Genova, Chủ tịch HĐGM Italia và bà bộ trưởng giáo dục Stefania Giannini, cùng với các thành viên Phong trào Công Giáo tiến hành Italia, các nhân viên mục vụ học đường, gia đình và giới trẻ. Họ đứng đầy Quảng trường Thánh Phêrô và dọc theo đường Hòa Giải cho đến tận bờ sông Tevere.

Cuộc gặp gỡ do HĐGM Italia tổ chức trong khuôn khổ chương trình gọi là ”Giáo Hội bênh vực các trường học”.

ĐHY Angelo Bagnasco, TGM Genova, Chủ tịch HĐGM Italia, tuyên bố rằng đã đến lúc đặt lại ở trung tâm những gì quan trọng nhất, trong số các trường học đáng được đặc biệt quan tâm, vì nếu chúng ta không đầu tư vào lãnh lực này thì một nước rất khó phục hồi sự tăng trưởng. Một xã hội không dành năng lực kinh tế, nhất là các năng lực nhân sự cho trường học, nghĩa là cho việc huấn luyện và canh tân, thì rốt cuộc sẽ bị lỡ cơ hội phục hồi”.

Chương trình gặp gỡ bắt đầu lúc 3 giờ chiều với phần sinh hoạt của các học sinh và sau đó, lúc 4 giờ 15 phút chiều, ĐTC tiến vào quảng trường, đi xe zíp để chào thăm mọi người trước khi chính thức bắt đầu cuộc gặp gỡ từ lúc 5 giờ đến 6 giờ rưỡi chiều.

Cuộc gặp gỡ xen lẫn các bài chia sẻ, các bài ca, chứng từ và trong bài huấn dụ, ĐTC bày tỏ sự hài lòng về cuộc gặp gỡ như một lễ hội của học đường. Ngài nói:

”Chúng ta biết rõ có những vấn đề và những điều không ổn. Nhưng anh chị em ở đây, chúng ta ở đây vì chúng ta yêu mến học đường. Tôi nói là ”chúng tôi” vì tôi cũng yêu mến học đường, tôi đã yêu mến trường học như học sinh, sinh viên và như là giáo chức. Tiếp đến như Giám Mục. Trong giáo phận Buenos Aires, tôi thường gặp giới học đường và ngày nay tôi cám ơn anh chị em vì đã chuẩn bị cuộc gặp gỡ này, cho toàn thể Italia.

ĐTC cũng giải thích rằng: ”đi đến trường học có nghĩa là cởi mở tâm trí đối với thực tại, trong sự phong phú của các khía cạnh, các chiều kích. Đây là điều thật đẹp! Trong những năm đầu tiên, ta học 360 độ, rồi dần dần ta đào sâu một hướng đi rồi dần dần chuyên môn. Nếu một người học cách học, thì sẽ luôn luôn là một người cởi mở đối với thực tại! Đó là điều mà một nhà đại giáo dục người Italia đã dạy, đó là cha Lorenzo Milani.

”ĐTC đặc biệt nhắn nhủ các giáo chức hãy luôn cởi mở đối với thực tại, với tâm trí luôn cởi mở để học hỏi! Đúng vậy, nếu một giáo chức không cởi mở để học hỏi, thì không phải là một nhà giáo tốt, không hay, và các học sinh đánh hơi thấy ngay. Các học sinh bị thu hút vì những giáo sư có một tư tưởng cởi mở, luôn tìm kiếm những gì hơn nữa, và làm cho các học sinh cũng được lây nhiễm thái độ ấy. Đó là động lực đầu tiên khiến tôi yêu mến học đường.

”Một lý do khác nữa, đó là học đường là nơi gặp gỡ: gặp gỡ bạn bè, giáo chức và các nhân viên trợ giúp. Các phụ huynh gặp giáo dục, hiệu trưởng gặc các gia đình, v.v. Đó là điều căn bản trong tuổi tăng trưởng, như một sự bổ túc cho gia đình... Trường học làm cho chúng ta gặp gỡ những người khác chúng ta, về tuổi tác, văn hóa, nguồn gốc.. Trường học là xã hội đầu tiên hội nhập và bổ túc gia đình. Gia đình và học đường không bao giờ được đối nghịch nhau!

”Sau nữa, tôi yêu mến trường học vì trường dạy chúng ta về chân, thiện, mỹ. Giáo dục không thể trung lập. Hoặc nó tích cực hoặc tiêu cực, hoặc nó làm phong phú hoặc làm nghèo nàn. Sứ mạng của gia đình là phát triển chân, thiện, Mỹ. Điều này diễn ra qua một con đường phong phú, được họp thành nhờ bao nhiêu yếu tố. Vì thế, có bao nhiêu môn học! Vì sự phát triển là thành quả của nhiều yếu tố cùng tác động và kích thức trí tuệ, lương tâm, tình cảm, thân xác, v.v.
 
PopeFrancis-10May2014-2.jpg

PopeFrancis-10May2014-3.jpg

PopeFrancis-10May2014-1.jpg


(G. Trần Đức Anh OP, RadioVaticana 10.05.2014)

Thứ Ba, 11 tháng 2, 2014

VĂN HÓA CỒNG CHIÊNG TÂY NGUYÊN


11/02/2014

Ban mục vụ Truyền thông Giáo phận xin giới thiệu cùng quí gia đình Giáo phận bài viết của Linh mục Chánh xứ Giáo xứ H’Neng, Đăk Đoa, Gia Lai, về “VĂN HÓA CỒNG CHIÊNG TÂY NGUYÊN” hội diễn tại khuôn viên giáo xứ H’Neng ngày Mồng Năm (ngày.04.02.2014)
GPKONTUM (11.20.2014) KONTUM
XIN KÍNH MỜI
.
VĂN HÓA CỒNG CHIÊNG TÂY NGUYÊN
 .
Mỗi khi xuân về, chúng tôi lại có dịp gặp nhau tại khuôn viên nhà thờ H’Neng, Đăk Đoa, Gia Lai, để giao lưu Văn Hoá Cồng Chiêng Tây Nguyên; một thể loại văn hoá phi vật thể được UNESCO công nhận năm 2002.
Nếu bảo tồn được thể loại văn hoá văn này, sẽ càng làm giàu thêm
cho nền văn hoá đất nước. Có thể nói, một quốc gia giàu đẹp phải
là một quốc gia đa văn hoá, đa ngôn ngữ. Vậy Văn Hóa Cồng Chiêng là gì?
  1. Ngày xưa [1], để đánh dấu một Năm Mới, người Tây Nguyên ăn uống với nhau suốt cả “Mùa Nắng” (còn gọi là Mùa Ăn Uống); nghĩa là sau mùa gặt sẽ có ăn mừng lúa mới, tiếp sau đó là những nghi thức cho các lễ (lễ mai mối, lễ hỏi, lễ cưới, lễ xây mồ mả, lễ trả nợ xương cốt, lễ tiễn bố, lễ kết nghĩa, lễ đặt tên và chúc lành cho bé, lễ xem ruộng, lễ dọn rẫy, lễ cầu mùa và nếu hạn hán kéo dài thì có lễ cầu mưa… Trong các lễ này không thiếu nghi thức đâm trâu tế thần, hoặc các con vật nuôi khác để cầu xin, để tạ ơn thần. Cả mùa nắng người Tây Nguyên ăn uống với nhau hết nhà này đến nhà khác, hết làng này đến làng khác bên những ghè rượu cần, thịt nướng, cơm lam, có cây nêu cùng với tiếng trống, tiếng chiêng, điệu múa, kể chuyện và hát đối (ngâm nga sử thi).
  1. Một nhận xét: Văn Hóa Cồng Chiêng Tây Nguyên mỗi ngày bị mai một, bị mất đi với nhiều lý do:
    • Toàn cầu hóa
    • Giao thoa văn hóa
    • Đời sống kinh tế khó khăn
    • Ý thức bảo tồn văn hóa còn yếu
    • Ít người quan tâm đến

  1. Động cơ thúc đẩy ngày Hội Cồng Chiêng:
    • Lưu giữ lại những nét đẹp bản sắc Văn Hóa Tây Nguyên.
    • Tạo sân chơi lành mạnh cho mọi người nhân dịp mừng Xuân mới, giúp anh chị em Bahnar, Jrai có cơ hội giao lưu, thi thố tài năng giữa các làng cũng như có một ngày nghĩ ngơi ăn tết.
    • Qua ngày Hội Cồng Chiêng đã có nhiều người biết Chúa và xin theo Chúa. Nếu duy trì được ngày lễ Hội này đều đặn (một lần trong năm) thì công việc truyền giáo sẽ mang lại nhiều kết quả; đây là một trong những phương cách truyền giáo theo tinh thần Công Đồng Vaticanô II.[2] Là hãy tìm ra hạt giống Lời Chúa trong các nền văn hóa ấy.[3]
Văn Hóa Tây Nguyên rất gần với thiên nhiên, từ quan niệm nhân sinh quan đến vũ trụ quan; ở đâu cũng có thần: thần sông, thần suối, thần núi, thần rừng, thần mưa, thần nắng; thần này người Tây Nguyên gọi là “yang” (đối với ngữ hệ môn Khơme) và “adai” (đối với ngữ hệ môn Mã lai).  Chữ yang gắn liền với toàn bộ đời sống của họ, trong ngôn ngữ và cả một đời người. Một khi đã nắm được những quan niệm cơ bản “yang với con người, yang với thiên nhiên”, các thừa sai sẽ dễ tìm ra những mối liên hệ Đức Chúa Trời (từ yang không viết hoa sang YANG viết hoa) mà chúng ta gọi là Thiên Chúa; phải có một YANG cao hơn trên các yang mà dân bản xứ thường gọi hàng ngày.  Đây là chìa khóa, và là bước khởi đầu để giới thiệu Thiên Chúa cho họ. Nói như Đức Gioan Phaolô II trong Tông Huấn Giáo Hội tại Á Châu: “Giáo Hội sẽ tìm cách giới thiệu Tin Mừng sao cho vừa trung thành với truyền thống của mình vừa không phản bội cái hồn của Á Châu”.[4]
  1. Một Trách Nhiệm:
Truyền giáo và bảo tồn văn hóa như là một bổn phận, một trách nhiệm được Giáo Hội ủy thác, giao phó.
Đức Phaolô VI ngài đã để ý tới đối tượng Phúc Âm Hóa là con người gắn liền với một nền văn hóa, và việc xây dựng Nước Trời không thể không vay mượn những yếu tố văn hóa của nhân loại.[5]
Để tiếp nối vị tiền nhiệm, Đức Gioan Phaolô II đã nói: Hội nhập văn hóa và truyền giáo là điều cần thiết và cấp bách.[6] Và như thế, ngài mời gọi “Giáo Hội cần tiếp xúc với những nền văn hóa khác nhau và thực hiện tiến trình hội nhập văn hóa”.[7] Giáo Hội phải nhập thể trong các nền văn hóa như Ngôi Lời Thiên Chúa Nhập thể trong một con người cụ thể là Đức Giêsu Nazaret. Điều này có nghĩa là “Giáo Hội phải truyền cho các nền văn hóa ấy những giá trị của mình, cùng lúc đảm nhận những gì tốt và canh tân chúng từ bên trong”.[8]
Nói như Công Đồng Vaticanô II: Phải khám phá đức tin trong các nền văn hóa mới.[9] Vì tương lai Kitô giáo sẽ nằm ở khắp mọi nền văn hóa trên thế giới, như thế, sự nhập thể của đức tin trong các nền văn hóa đó là điều hết sức cần thiết.
  1. Thay Lời kết:
Chúng con tạ ơn Chúa đã ban cho chúng con một năm qua được bình an, đặc biệt nhân dịp đầu Năm Mới chúng con có một Ngày Văn Hóa Cồng Chiêng Tây Nguyên thật vui tươi, chan hòa tình Chúa và tình người. Xin Chúa tiếp tục ban muôn ơn lành cho chúng con, đặc biệt cho Đức Giám Mục giáo phận, cho các vị chủ chăn, cho các ân nhân, thân nhân đã đem đến cho chúng con nhiều điều bổ ích trong dịp đầu Xuân. Ước gì Lời của Chúa mãi mãi là ánh sáng chỉ đường cho chúng con đi; và mỗi một người trong chúng con là men, là muối ướp mặn cho đời thêm tươi sinh. Chúng con xin tạ ơn Chúa (trích lời đại diện cám ơn một chú yaophu trong thánh lễ tạ ơn cuối ngày Hội Cồng chiêng).

MỘT SỐ HÌNH

01

04

05

06

OLYMPUS DIGITAL CAMERA

07
NT. PHAOLÔ H’NENG
 Lm Micae YA PHU (OFM)


[1] Ngày xưa (là nói đến thời gian từ thập niên 70 trở về trước của thế kỷ XX); lúc ấy trên Tây Nguyên dân còn thưa thớt, núi rừng còn nguyên, trâu bò nhiều vô kể, lúa gạo không thiếu. Có lẽ vì thiên nhiên ưu đãi nên người Tây Nguyên rất dễ dàng trong vấn đề ăn uống nghĩ ngơi dài ngày; đối với họ bên ghè rượu là cơ hội để hàn huyên tâm sự, để nối kết tình làng nghĩa xóm, để thắt chặt tính cộng đồng.
[2] Vaticanô II, Adgentes số 11 và 15.
[3] Gioan Phaolô II, Sứ Vụ Đấng Cứu Độ, số 56.
[4] Gioan Phaolô II, Tông Huấn Giáo Hội Tại Á Châu, số 6.
[5] Phaolô VI, Tông Huấn Loan Báo Tin Mừng, số 20.
[6] Gioan Phaolô II, Tông Huấn Giáo Hội Tại Á Châu, số 20.
[7] Gioan Phaolô II, Sứ Vụ Đấng Cứu Độ, số 52.
[8] Gioan Phaolô II, Sứ Vụ Đấng Cứu Độ, số 52.
[9] Vaticanô II, Gaudium et Spes, số 54.