Thứ Bảy, 28 tháng 6, 2014

Tâm tình Kitô Giáo của các thủ môn Giải Túc Cầu Thế Giới


6/28/2014 12:49:11 PM“Điên mới làm thủ môn”, câu truyền tụng trong giới túc cầu thế giới này đủ nói lên thân phận người thủ môn của môn thể thao nổi tiếng nhất địa cầu.
Dù sao, giữ vai trò này không dễ chút nào vì phải đương đầu với phần lớn áp lực của trận đấu, hơn hẳn mọi cầu thủ khác: một sơ hở nhỏ hay một giây phút bất cẩn cũng đủ lật ngược hẳn số phận đội nhà.
 
World-Cup-2014.jpg

Ấy thế nhưng, tại giải Túc Cầu Thế Giói năm nay tại Ba Tây, điều nổi bật nhất đối với các thủ môn xem ra không phải là chuyện điên hay không điên mà là chuyện tôn giáo. Thủ môn các đội như Croatia, Nigeria và Costa Rica nhiều lần thổ lộ rằng họ tìm thấy nơi đức tin Kitô Giáo một nguồn tài nguyên thiêng liêng tuyệt vời, không những có ích cho cuộc sống hàng ngày mà cả ở khung thành nữa.

Không phải là việc trùng hợp khi tôn giáo đóng một vai trò chủ yếu đối với nhiều thủ môn: có lẽ sức mạnh cầu nguyện vốn giúp họ bớt căng thẳng và giúp họ tập trung, một điều hết sức cần thiết.



Vincent Enyeama, thủ môn đội Nigeria, chẳng hạn, luôn sống đức tin của anh một cách nồng đậm đến nỗi đồng đội tặng anh biệt danh “ông mục sư”. Thực thế, Enyama thường khuyến khích toàn đội của anh cầu nguyện chung trước mỗi bữa ăn, mổi buổi tập dượt và mỗi trận đấu. Trong một cuộc phỏng vấn, huấn luyện viên của anh thú nhận rằng nếu Enyama “không trở thành một thủ môn, chắc chắn anh ta sẽ dễ dàng mở được một nhà thờ”.

Sau một trận tranh giải AFCON (giải các quốc gia Phi Châu), trong đó, Enyama đã giữ cho đội nhà khỏi thua bằng một cú cứu tuyệt vời, được các nhà báo hỏi nhờ đâu anh thực hiện được một tuyệt chiêu như thế, Enyama trả lời: “Các Thiên Thần của Chúa giúp tôi, các ngài hướng dẫn các bàn tay của tôi vươn ra đúng chỗ để chặn trái banh”. Nghiệp thủ môn của Enyama đáng lý ra đã kết thúc sớm vào năm 2004 khi anh bị tai nạn xe hơi rất nặng, nhưng anh cảm tạ Chúa vì biến cố này chỉ làm anh xây xát qua loa.




Một người sùng đạo khác là Stipe Pletikosa. Mỗi lần giữ khung thành, người thủ môn Croatia này đều mặc chiếc áo thung vẽ hình Đức Mẹ Mễ Du và trước khi trận đấu bắt đầu, anh đều tập chú vào việc cầu nguyện cho tới giây phút cuối cùng. Chính tại Mễ Du, tháng 5 năm ngoái, đội Croatia đã huấn luyện một tuần lễ trước khi chơi các trận xếp hạng để được dự Giải Thế Giới.

Trong một cuộc phỏng vấn, người thủ môn của đội Croatia này cho hay: đức tin đã giúp anh duy trì được tác phong bình thản và tránh được điều anh gọi là “hạnh phúc giả tạo”, tức những thái quá vốn là đặc điểm của nhiều cẩu thủ túc cầu nổi tiếng khác. Pletikosa nói thêm: thay vì tìm sức mạnh ở tiền bạc hoặc tiếng tăm, anh trở nên mạnh mẽ hơn nhờ mối liên hệ của anh với Thiên Chúa. Anh nói: “Cầu nguyện là tâm điểm khế ước của tôi với Thiên Chúa. Cầu nguyện đem lại bình an cho tôi”.




Về phần mình, Keylor Navas của đội Costa Rica, trong một cuộc phỏng vấn, thú thực rằng trước mỗi trận đấu, anh đều cầu nguyện với Chúa, xin Người đặt hai thiên thần để giữ hai khung thành của anh. Navas nói rằng sức mạnh của cầu nguyện giúp anh tập trung và bỏ ngoài tai những la ó và nhục mạ đến từ người ái mộ.

Thêm vào đó, thủ môn Costa Rica này hiện còn hợp tác với hiệp hội “Vida Nova” (Đời Sống Mới) tại Valencia, là hiệp hội chuyên trợ giúp những người kém may mắn. Hiệp hội này có một đội túc cầu riêng tên là “Câu Lạc Bộ Thể Thao Phúc Âm”, một hội, nhờ thể thao, đã có thể đóng góp nhiều cho các hoạt động bác ái.




Trong một cuộc phỏng vấn, Navas mô tả cách sống đức tin của anh như sau: “Đối với tôi, Thiên Chúa phải đến đầu tiên. Trước mỗi trận đấu, tôi đều qùy cầu nguyện, tôi dang rộng cánh tay và cầu nguyện… Đoạn Sách Thánh tôi ưa thích là Thư Galát 1:10 là đoạn nói rằng: “Nếu tôi vẫn cứ cố gắng làm vui lòng người ta, tôi không thể phục vụ Chúa Kitô được”. Nhờ thế, tôi không mất điềm tĩnh. Thiên Chúa ban cho tôi sức khỏe và một công việc tuyệt vời. Nên tôi không đứng im mà chờ cho sự việc xẩy tới. Tôi làm việc không ngừng và cố hết sức để tự cải thiện mình, giống như toàn đội quốc gia của tôi. Thái độ của chúng tôi được tạo nên nhờ đức tin và đức cậy: không có chúng, bạn chẳng đi tới đâu”.

Tuy nhiên, việc các thủ môn thi hành “sứ mệnh của Chúa” không hẳn là một điều mới mẻ. Thủ môn Á Căn Đình, Carlos Roa, một năm sau giải Pháp Quốc năm 1998 đã xin nghỉ một năm để phục vụ Giáo Hội Cơ Đốc Phục Lâm. Điều chắc chắn là các thủ môn Kitô Giáo tham dự Giải Thế Giới năm nay tại Ba Tây tìm được chỗ thích hợp để cầu nguyện, vì Ba Tây là một nước, hơn hẳn bất cứ nước nào khác, luôn cố gắng tổng hợp thể thao với việc truyền bá phúc âm.

Thực vậy, chính tại Ba Tây người ta thấy phong trào “Các Vận Động Viên của Chúa Kitô”, một hiệp hội nhằm mục đích hội tụ mọi thể tháo gia có khuynh hướng phúc âm. Ngoài ra, chính ngành túc cầu Ba Tây cũng có gốc rễ Kitô Giáo. Theo tạp chí Ba Tây “Passos”, các cha Dòng Tên là những người đầu tiên đưa túc cầu vào các trường học vì họ nghĩ “nhiều bài học luân lý phát sinh từ tinh thần thể thao”.



Vũ Văn An

Thứ Năm, 26 tháng 6, 2014

Chủ quyền Hoàng Sa, Trường Sa theo ghi chép của các giáo sĩ phương Tây - Phạm Huy Thông

LTCGVN (26.06.2014)


Theo giaó sử thì giáo sĩ nước ngoài đầu tiên đặt chân đến Việt Nam là Francesco Buzomi (1575-1639), người Ý, tới Cửa Hàn ngày 18-1-1615. Sở dĩ, Việt Nam chưa được chú ý đến sớm vì do có sự phân chia thế giới cho Bồ Đào Nha và Tây Ban Nha qua sắc chỉ của Giáo hoàng Alexandre VI năm 1494 mà Việt Nam thuộc quyền khai thác của người Bồ Đào Nha. Nhưng một số giáo sĩ người Bồ đến nước ta lại không biết tiếng bản xứ - một thứ tiếng mà người ngoại quốc mô tả là rất khó học vì “líu lô như chim hót” nên đành chịu thất bại quay về. Những giáo sĩ của dòng Tên có khả năng ngoại ngữ lại chỉ nhắm đến Nhật Bản, Trung Quốc, Triều Tiên. Chỉ đến khi hoàng đế Nhật Bản Daifusama ra lệnh trục xuất các giáo sĩ và cấm đạo gắt gao năm 1614, các giáo sĩ nước ngoài mới chạy về Ma Cao và từ đó mới tìm đến Việt Nam để rao giảng đạo Công Giáo. Đã có nhiều nghiên cứu về đóng góp của đạo Công Giáo với văn hóa Việt và một trong những đóng góp đó là những ghi chép của giáo sĩ nước ngoài về chủ quyền của Việt Nam với hai quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa.



Ai cũng biết rằng, dưới thời phong kiến, nước ta hầu như không có tên trên bản đồ thế giới. Giáo sĩ Alexandre de Rhodes (Đắc Lộ) cũng ngạc nhiên khi đặt chân lên Việt Nam. Ông viết:

“Tôi không biết vì sao đất nước rất xinh đẹp này lại không được biết tới. Vì sao các nhà địa lý châu Âu không biết tí gì và cũng không ghi trên bản đồ nào cả. Tuy họ chép đầy đủ tên các nước trên thế giới” (1).

Chính ông, người có công lớn trong việc xây dựng nên chữ quốc ngữ ngày nay khi công bố bộ 3 tác phẩm: Từ điển Việt- Bồ -La, Phép giảng tám ngày và Ngữ pháp tiếng Việt ở Rôma năm 1651 cũng đã kịch liệt chống lại các quan niêm sai lầm lúc đó như “ ngoài châu Âu ra thì hoàn toàn là man di mọi rợ” hay “ Trung Quốc là tất cà những gì đẹp đẽ nhất trái đất”. Ông đã nhiều lần ca ngợi đất nước, con người, xã hội Việt Nam. Ông viết:

“ Tôi có thể nói, họ chẳng thua gì các bác sĩ của ta và hơn nữa, trong một vài môn họ giỏi hơn ta nữa…Họ luôn dùng ba ngón tay để bắt mạch và thực ra họ rất thành thạo. Thuốc của họ không khó uống như của ta, hơn nữa không đắt tý nào bởi vì thứ đăt nhất cũng chằng giá hơn 5 xu… Pháp luật ở đây còn hơn cả các nước phương Tây vì không có giấy tờ rườm rà, nghi thức lôi thôi làm tổn phí thời giờ và tiền bạc của đôi bên”(2).

Điều ngạc nhiên là ngay vị giáo sĩ đầu tiên khi đặt chân đến Việt Nam là F. Buzomi cũng đã có ghi chép về việc người Việt đã khai thác hải sản và quản lý Hoàng Sa. Ông viết:

“ Hải cảng đông nhất, nơi mà tấ cả những người ngoại quốc đều đến và cũng là nơi có hội chợ đông đúc là hải cảng thuộc tỉnh Quảng Nam. Chúa Đàng Trong cho người Nhật, người Hoa tự chọn một địa điểm thuận tiện để lập một thành phố chuyên cho việc buôn bán. Thành phố này gọi là Faifo tức Hội An…Thuyền trưởng các tàu buôn qua lại nơi này thích cập cảng Hội An hay những cảng gần thủ đô Huế. Những người đi biển của 3 cảng này (tức cảng Huế, Hội An và Đà Nẵng) là những người lão luyện nhất của quốc gia này và hàng năm có chuyến đi biển đến quần đảo và bãi đá lô nhô có tên Hoàng Sa (Paracels) nằm cách biển Đàng Trong khoảng 20-30 dặm” (3). 

Không ít người kể cả các nhà khoa học cũng nghĩ rằng Việt Nam bị đô hộ bởi Trung Quốc cả ngàn năm nên bị Hán hóa nhưng sau khi nghe những tài liệu nghiên cứu về Việt Nam của linh mục Leopold Cadiere, giáo sư Condominas đã phát biểu trong cuộc hội thảo “Tuần lễ dân tộc học tôn giáo” ở Luxembourg năm 1928:

“ Một dân tộc biết tiếp nhận vô vàn yếu tố Trung Hoa, bị áp đặt và thu nạp một cách tự nguyện, để dựng lên một thế giới của riêng mình, và giữ gìn bản sắc độc đáo của mình” (4).

Chính F. Buzomi cũng nhận ra sự khác biệt của tính cách và con người Việt Nam khác với các dân tộc quanh vùng. Ông viết:

“ Nhờ Khổng giáo, xã hội và gia đình Việt Nam có một tổ chức rất cao, người dân Việt Nam có những đức tính và phong tục rất đáng khâm phục…Người Việt không nghiêng về văn chương, tính tình không thâm hiểm như người Tầu… Cả về tầm thước, họ không cao như người Tầu, cũng không thấp như người Nhật, dễ nghe, dễ tin và nhiều mê tín nhưng người dân Việt dễ nhận ra lẽ phải, không kiêu căng hay tự tôn như người Tầu” (5).

Năm 1511, một thuyền buôn của người Bồ Đào Nha do thuyền trưởng Fernad Piado cùng với một giáo sĩ dòng Tên đã ghi lại chuyến công du qua biển Đông. Ghi chép này được xuất bản trong cuốn “Du ký Feraginacao”, xuất bản ở Lisbon năm 1614. Trong sách Piado đã mô tả quần đảo Hoàng sa khá chi tiết mà ông gọi là Pulo Pracelar. Theo tiếng Bồ Đào Nha thì Pulo là cù lao còn Pracelar nghĩa là san hô. Trong cuốn nhật ký của tàu Amphitrite, khi chở các giáo sĩ dòng Tên qua quần đảo Paracels (tức Hoàng Sa) năm 1701 có ghi: “ Người ta cho nhổ neo, gió rất tốt. Và sau đó chỉ một thời gian đi đến quần đảo Paracels. Paracels là một đảo thuộc về An Nam. Đó là một bãi đá ngầm khủng khiếp có đến hàng trăm dặm, chạy dài xuống phía nam, chạy dọc theo bờ biến xứ Cochinchine (Đàng Trong), rất nhiều lần đã xảy ra các nạn đắm tàu ở đó” (6).

Có lẽ địa hình hiểm trở của bãi đá ngầm Hoàng Sa là nỗi ám ảnh với những thuyền buôn qua đây. Nhật ký tàu Amphitrite ghi tiếp: “ Tàu Amphitrite là tàu đầu tiên hành trình đến Trung Quốc suýt bị đắm. Nhiều chỗ cạn chỉ có 4-5 sải nước. Thoát được nguy hiểm ở đây thì chỉ có phép lạ. Bị đắm tàu trên những tảng đá khủng khiếp đó hoặc bị lạc phương hướng khi không còn một một nguồn dự trữ nào thì cũng nguy hiểm như nhau mà thôi” (7).

Một giáo sĩ tên là Jean Baptiste Shaipeau (1769-1825) được vua Gia Long yêu quý đặt cho một tên Việt là Nguyễn Văn Thắng trong cuốn hồi ký có tên là “ La mémoire sur la Cochinchine” đã viết:

“ Nước Cochinchine ( tức An Nam) mà nhà vua bây giờ xưng đế hiệu Hoàng đế gồm xứ Đàng Trong, xứ Đông Kinh, một phần xứ Cao Miên, một vài đảo có dân cư không xa bờ và quần đảo Paracels hợp thành bởi những bãi đá nhỏ, đá ngầm và một số mỏm đá không dân cư. Cho đến năm 1816, đương kim Hoàng đế mới lấy chủ quyền trên quần đảo ấy (8)”.

Giám mục Jean Louis Taberd trong cuốn biên khảo “ Univers historique et description de tous les peuples” xuất bản ở Paris 1833 ghi rõ: “ Chúng tôi không đi vào việc kê khai những đảo chính yếu của xứ An Nam. Chúng tôi chỉ xin lưu ý rằng, từ hơn 34 năm nay, quần đảo Paracels mà người Việt gọi là Cát Vàng hay Hoàng Sa cũng có nghĩa là cát vàng, gồm nhiều hòn đảo chằng chịt với nhau, lởm chởm những hòn đá nhô lên giữa những bãi cát làm cho những kẻ đi biển rất e ngại đã được chiếm cứ bởi người Việt xứ Đàng Trong… Có điều chúng tôi biết chắc chắn là hoàng đế Gia Long đã ngự tàu ra biển để chiếm cứ các đóa hoa lạ để cài lên vương miện của ngài. Vì vậy mà ngài xét thấy đã đến lúc phài thân chinh vượt biển để tiếp thêm quân đến Hoàng Sa vào năm 1816. Ngài đã trịnh trọng cắm lá cờ đỏ, lá cờ của xứ Đàng Trong”.

16 năm sau, tức năm 1849, J.L. Taberd lại cho công bố bằng tiếng Anh tại Ấn Độ: “Năm 1816, vua Gia Long đã tới và còn long trọng cắm cờ quốc gia của ông khẳng định chủ quyền trên các quần đảo này và hình như không một ai tranh giành với ông”. Chính vị giám mục này, trong cuốn từ điển tiếng Việt “Từ điển La- Việt” của ông in ở Serampore năm 1838 và cũng đã cho công bố tấm bản đồ rất có giá trị lịch sử. Đó là “ An nam đại quốc họa đồ”khổ 80 x 40 cm bằng 3 thứ tiếng Latinh, Quốc ngữ và Hán ngữ mà các nhà sử học nước ta hiện nay thường trưng dẫn để khẳng định chủ quyền Hoàng Sa, Trường Sa của Việt Nam (ảnh trên). Trong bản đồ trên được in bằng giấy chuyên dụng, giám mục J.L. Taberd đã ghi rất rõ vị trí của Paracels tức Cát Vàng là thuộc Việt Nam, trong khi đó lại không ghi đảo Hải Nam trên biển Đông. Một số giáo sĩ khác như A. de Rhodes cũng đã cho in bản đồ Việt Nam có ghi đảo Hoàng Sa mà lúc đó ông gọi là Pulosisi. Một giáo sĩ người Hà Lan trong bản đồ “Việt Nam với Đàng Ngoài, Đàng Trong và biển Đông với quần đảo Paracels” in trong Carte de L’Indochine 1658-1659 cũng ghi rõ Hoàng Sa (Paracels) là của Việt Nam.

Trên tạp chí Journal of Asiatic society of Bengal, số 6-7 tháng 9 năm 1837, giám mục J.L Taberd cũng viết: “ Paracel hoặc Paracels tức quần đảo này không có gì ngoài đá tảng và những cồn cát lớn,nó hứa hẹn nhiều bất tiện hơn là lợi. Vua Gia Long đã mở rộng lãnh thổ bằng cách chiếm thêm cái đảo buồn này. Năm 1816, ông đã long trọng cắm cờ và chính thức khẳng định chủ quyền các quần đảo đá này mà không một ai tranh giành với ông”.

John Barrow, một giáo sĩ quốc tịch Anh khi đi đến Trung Quốc, cũng đi qua vùng biển có quần đảo Hoàng Sa. Ông ghi lại trong hồi ký “ Một chuyến du hành tới Đàng Trong vào năm 1792-1793”, xuất bản ở London năm 1806 có đoạn: “ Các thuyền xứ Đàng Trong dùng vào việc buôn bán ven biển, chài lưới, đánh bắt hải sản và tổ yến. Họ ra tận quần đảo có tên là Paracels và thu được nhiều hải sản khác nhau”.

Tóm lại, các ghi chép của các giáo sĩ nước ngoài đã khẳng định Hoàng Sa, Trường Sa của Việt Nam từ rất sớm, chí ít cũng là từ thế kỷ XVII.

Chú thích:

1,2- A. de Rhodes: Hành trình truyền giáo, Tủ sách Đại Kết 1994, tr.143,tr.89

3- Theo trang Biendong.net, ngày 23-8-2013

4- L. Cadiere: Về văn hóa, tín ngưỡng truyền thống người Việt, Nxb VHTT 1997, tr.10

5- Nguyễn Hồng: Lịch sử truyền giáo ở Việt Nam, tập 1, Nxb Hiện Tại Sài Gòn 1951, tr.55

6,7- Dẫn theo Biendong.net ngày 23-8-2013

8- Dẫn theo Biengioilanhtho.gov.vn ngày 28-8-2013

Phạm Huy Thông
http://luongtamconggiaovietnam.blogspot.com/2014/06/chu-quyen-hoang-sa-truong-sa-theo-ghi.html

Chủ Nhật, 11 tháng 5, 2014

Đức Thánh Cha tiếp kiến 200 ngàn người thuộc giới học đường Italia


5/11/2014 11:45:55 AMVATICAN. Chiều ngày 10-5-2014, ĐTC đã gặp gỡ 200 ngàn người gồm các vị lãnh đạo, giáo chức và các học sinh các trường tại Italia, đặc biệt là các trường Công Giáo.
PopeFrancis-10May2014-4.jpg
AFP Photo/Andreas Solaro; AP Photo/Alessandra Tarantino; REUTERS/Max Rossi
Tham dự cuộc gặp gỡ này tại Quảng trường thánh Phêrô cũng có ĐHY Angelo Bagnasco, TGM Genova, Chủ tịch HĐGM Italia và bà bộ trưởng giáo dục Stefania Giannini, cùng với các thành viên Phong trào Công Giáo tiến hành Italia, các nhân viên mục vụ học đường, gia đình và giới trẻ. Họ đứng đầy Quảng trường Thánh Phêrô và dọc theo đường Hòa Giải cho đến tận bờ sông Tevere.

Cuộc gặp gỡ do HĐGM Italia tổ chức trong khuôn khổ chương trình gọi là ”Giáo Hội bênh vực các trường học”.

ĐHY Angelo Bagnasco, TGM Genova, Chủ tịch HĐGM Italia, tuyên bố rằng đã đến lúc đặt lại ở trung tâm những gì quan trọng nhất, trong số các trường học đáng được đặc biệt quan tâm, vì nếu chúng ta không đầu tư vào lãnh lực này thì một nước rất khó phục hồi sự tăng trưởng. Một xã hội không dành năng lực kinh tế, nhất là các năng lực nhân sự cho trường học, nghĩa là cho việc huấn luyện và canh tân, thì rốt cuộc sẽ bị lỡ cơ hội phục hồi”.

Chương trình gặp gỡ bắt đầu lúc 3 giờ chiều với phần sinh hoạt của các học sinh và sau đó, lúc 4 giờ 15 phút chiều, ĐTC tiến vào quảng trường, đi xe zíp để chào thăm mọi người trước khi chính thức bắt đầu cuộc gặp gỡ từ lúc 5 giờ đến 6 giờ rưỡi chiều.

Cuộc gặp gỡ xen lẫn các bài chia sẻ, các bài ca, chứng từ và trong bài huấn dụ, ĐTC bày tỏ sự hài lòng về cuộc gặp gỡ như một lễ hội của học đường. Ngài nói:

”Chúng ta biết rõ có những vấn đề và những điều không ổn. Nhưng anh chị em ở đây, chúng ta ở đây vì chúng ta yêu mến học đường. Tôi nói là ”chúng tôi” vì tôi cũng yêu mến học đường, tôi đã yêu mến trường học như học sinh, sinh viên và như là giáo chức. Tiếp đến như Giám Mục. Trong giáo phận Buenos Aires, tôi thường gặp giới học đường và ngày nay tôi cám ơn anh chị em vì đã chuẩn bị cuộc gặp gỡ này, cho toàn thể Italia.

ĐTC cũng giải thích rằng: ”đi đến trường học có nghĩa là cởi mở tâm trí đối với thực tại, trong sự phong phú của các khía cạnh, các chiều kích. Đây là điều thật đẹp! Trong những năm đầu tiên, ta học 360 độ, rồi dần dần ta đào sâu một hướng đi rồi dần dần chuyên môn. Nếu một người học cách học, thì sẽ luôn luôn là một người cởi mở đối với thực tại! Đó là điều mà một nhà đại giáo dục người Italia đã dạy, đó là cha Lorenzo Milani.

”ĐTC đặc biệt nhắn nhủ các giáo chức hãy luôn cởi mở đối với thực tại, với tâm trí luôn cởi mở để học hỏi! Đúng vậy, nếu một giáo chức không cởi mở để học hỏi, thì không phải là một nhà giáo tốt, không hay, và các học sinh đánh hơi thấy ngay. Các học sinh bị thu hút vì những giáo sư có một tư tưởng cởi mở, luôn tìm kiếm những gì hơn nữa, và làm cho các học sinh cũng được lây nhiễm thái độ ấy. Đó là động lực đầu tiên khiến tôi yêu mến học đường.

”Một lý do khác nữa, đó là học đường là nơi gặp gỡ: gặp gỡ bạn bè, giáo chức và các nhân viên trợ giúp. Các phụ huynh gặp giáo dục, hiệu trưởng gặc các gia đình, v.v. Đó là điều căn bản trong tuổi tăng trưởng, như một sự bổ túc cho gia đình... Trường học làm cho chúng ta gặp gỡ những người khác chúng ta, về tuổi tác, văn hóa, nguồn gốc.. Trường học là xã hội đầu tiên hội nhập và bổ túc gia đình. Gia đình và học đường không bao giờ được đối nghịch nhau!

”Sau nữa, tôi yêu mến trường học vì trường dạy chúng ta về chân, thiện, mỹ. Giáo dục không thể trung lập. Hoặc nó tích cực hoặc tiêu cực, hoặc nó làm phong phú hoặc làm nghèo nàn. Sứ mạng của gia đình là phát triển chân, thiện, Mỹ. Điều này diễn ra qua một con đường phong phú, được họp thành nhờ bao nhiêu yếu tố. Vì thế, có bao nhiêu môn học! Vì sự phát triển là thành quả của nhiều yếu tố cùng tác động và kích thức trí tuệ, lương tâm, tình cảm, thân xác, v.v.
 
PopeFrancis-10May2014-2.jpg

PopeFrancis-10May2014-3.jpg

PopeFrancis-10May2014-1.jpg


(G. Trần Đức Anh OP, RadioVaticana 10.05.2014)

Thứ Ba, 11 tháng 2, 2014

VĂN HÓA CỒNG CHIÊNG TÂY NGUYÊN


11/02/2014

Ban mục vụ Truyền thông Giáo phận xin giới thiệu cùng quí gia đình Giáo phận bài viết của Linh mục Chánh xứ Giáo xứ H’Neng, Đăk Đoa, Gia Lai, về “VĂN HÓA CỒNG CHIÊNG TÂY NGUYÊN” hội diễn tại khuôn viên giáo xứ H’Neng ngày Mồng Năm (ngày.04.02.2014)
GPKONTUM (11.20.2014) KONTUM
XIN KÍNH MỜI
.
VĂN HÓA CỒNG CHIÊNG TÂY NGUYÊN
 .
Mỗi khi xuân về, chúng tôi lại có dịp gặp nhau tại khuôn viên nhà thờ H’Neng, Đăk Đoa, Gia Lai, để giao lưu Văn Hoá Cồng Chiêng Tây Nguyên; một thể loại văn hoá phi vật thể được UNESCO công nhận năm 2002.
Nếu bảo tồn được thể loại văn hoá văn này, sẽ càng làm giàu thêm
cho nền văn hoá đất nước. Có thể nói, một quốc gia giàu đẹp phải
là một quốc gia đa văn hoá, đa ngôn ngữ. Vậy Văn Hóa Cồng Chiêng là gì?
  1. Ngày xưa [1], để đánh dấu một Năm Mới, người Tây Nguyên ăn uống với nhau suốt cả “Mùa Nắng” (còn gọi là Mùa Ăn Uống); nghĩa là sau mùa gặt sẽ có ăn mừng lúa mới, tiếp sau đó là những nghi thức cho các lễ (lễ mai mối, lễ hỏi, lễ cưới, lễ xây mồ mả, lễ trả nợ xương cốt, lễ tiễn bố, lễ kết nghĩa, lễ đặt tên và chúc lành cho bé, lễ xem ruộng, lễ dọn rẫy, lễ cầu mùa và nếu hạn hán kéo dài thì có lễ cầu mưa… Trong các lễ này không thiếu nghi thức đâm trâu tế thần, hoặc các con vật nuôi khác để cầu xin, để tạ ơn thần. Cả mùa nắng người Tây Nguyên ăn uống với nhau hết nhà này đến nhà khác, hết làng này đến làng khác bên những ghè rượu cần, thịt nướng, cơm lam, có cây nêu cùng với tiếng trống, tiếng chiêng, điệu múa, kể chuyện và hát đối (ngâm nga sử thi).
  1. Một nhận xét: Văn Hóa Cồng Chiêng Tây Nguyên mỗi ngày bị mai một, bị mất đi với nhiều lý do:
    • Toàn cầu hóa
    • Giao thoa văn hóa
    • Đời sống kinh tế khó khăn
    • Ý thức bảo tồn văn hóa còn yếu
    • Ít người quan tâm đến

  1. Động cơ thúc đẩy ngày Hội Cồng Chiêng:
    • Lưu giữ lại những nét đẹp bản sắc Văn Hóa Tây Nguyên.
    • Tạo sân chơi lành mạnh cho mọi người nhân dịp mừng Xuân mới, giúp anh chị em Bahnar, Jrai có cơ hội giao lưu, thi thố tài năng giữa các làng cũng như có một ngày nghĩ ngơi ăn tết.
    • Qua ngày Hội Cồng Chiêng đã có nhiều người biết Chúa và xin theo Chúa. Nếu duy trì được ngày lễ Hội này đều đặn (một lần trong năm) thì công việc truyền giáo sẽ mang lại nhiều kết quả; đây là một trong những phương cách truyền giáo theo tinh thần Công Đồng Vaticanô II.[2] Là hãy tìm ra hạt giống Lời Chúa trong các nền văn hóa ấy.[3]
Văn Hóa Tây Nguyên rất gần với thiên nhiên, từ quan niệm nhân sinh quan đến vũ trụ quan; ở đâu cũng có thần: thần sông, thần suối, thần núi, thần rừng, thần mưa, thần nắng; thần này người Tây Nguyên gọi là “yang” (đối với ngữ hệ môn Khơme) và “adai” (đối với ngữ hệ môn Mã lai).  Chữ yang gắn liền với toàn bộ đời sống của họ, trong ngôn ngữ và cả một đời người. Một khi đã nắm được những quan niệm cơ bản “yang với con người, yang với thiên nhiên”, các thừa sai sẽ dễ tìm ra những mối liên hệ Đức Chúa Trời (từ yang không viết hoa sang YANG viết hoa) mà chúng ta gọi là Thiên Chúa; phải có một YANG cao hơn trên các yang mà dân bản xứ thường gọi hàng ngày.  Đây là chìa khóa, và là bước khởi đầu để giới thiệu Thiên Chúa cho họ. Nói như Đức Gioan Phaolô II trong Tông Huấn Giáo Hội tại Á Châu: “Giáo Hội sẽ tìm cách giới thiệu Tin Mừng sao cho vừa trung thành với truyền thống của mình vừa không phản bội cái hồn của Á Châu”.[4]
  1. Một Trách Nhiệm:
Truyền giáo và bảo tồn văn hóa như là một bổn phận, một trách nhiệm được Giáo Hội ủy thác, giao phó.
Đức Phaolô VI ngài đã để ý tới đối tượng Phúc Âm Hóa là con người gắn liền với một nền văn hóa, và việc xây dựng Nước Trời không thể không vay mượn những yếu tố văn hóa của nhân loại.[5]
Để tiếp nối vị tiền nhiệm, Đức Gioan Phaolô II đã nói: Hội nhập văn hóa và truyền giáo là điều cần thiết và cấp bách.[6] Và như thế, ngài mời gọi “Giáo Hội cần tiếp xúc với những nền văn hóa khác nhau và thực hiện tiến trình hội nhập văn hóa”.[7] Giáo Hội phải nhập thể trong các nền văn hóa như Ngôi Lời Thiên Chúa Nhập thể trong một con người cụ thể là Đức Giêsu Nazaret. Điều này có nghĩa là “Giáo Hội phải truyền cho các nền văn hóa ấy những giá trị của mình, cùng lúc đảm nhận những gì tốt và canh tân chúng từ bên trong”.[8]
Nói như Công Đồng Vaticanô II: Phải khám phá đức tin trong các nền văn hóa mới.[9] Vì tương lai Kitô giáo sẽ nằm ở khắp mọi nền văn hóa trên thế giới, như thế, sự nhập thể của đức tin trong các nền văn hóa đó là điều hết sức cần thiết.
  1. Thay Lời kết:
Chúng con tạ ơn Chúa đã ban cho chúng con một năm qua được bình an, đặc biệt nhân dịp đầu Năm Mới chúng con có một Ngày Văn Hóa Cồng Chiêng Tây Nguyên thật vui tươi, chan hòa tình Chúa và tình người. Xin Chúa tiếp tục ban muôn ơn lành cho chúng con, đặc biệt cho Đức Giám Mục giáo phận, cho các vị chủ chăn, cho các ân nhân, thân nhân đã đem đến cho chúng con nhiều điều bổ ích trong dịp đầu Xuân. Ước gì Lời của Chúa mãi mãi là ánh sáng chỉ đường cho chúng con đi; và mỗi một người trong chúng con là men, là muối ướp mặn cho đời thêm tươi sinh. Chúng con xin tạ ơn Chúa (trích lời đại diện cám ơn một chú yaophu trong thánh lễ tạ ơn cuối ngày Hội Cồng chiêng).

MỘT SỐ HÌNH

01

04

05

06

OLYMPUS DIGITAL CAMERA

07
NT. PHAOLÔ H’NENG
 Lm Micae YA PHU (OFM)


[1] Ngày xưa (là nói đến thời gian từ thập niên 70 trở về trước của thế kỷ XX); lúc ấy trên Tây Nguyên dân còn thưa thớt, núi rừng còn nguyên, trâu bò nhiều vô kể, lúa gạo không thiếu. Có lẽ vì thiên nhiên ưu đãi nên người Tây Nguyên rất dễ dàng trong vấn đề ăn uống nghĩ ngơi dài ngày; đối với họ bên ghè rượu là cơ hội để hàn huyên tâm sự, để nối kết tình làng nghĩa xóm, để thắt chặt tính cộng đồng.
[2] Vaticanô II, Adgentes số 11 và 15.
[3] Gioan Phaolô II, Sứ Vụ Đấng Cứu Độ, số 56.
[4] Gioan Phaolô II, Tông Huấn Giáo Hội Tại Á Châu, số 6.
[5] Phaolô VI, Tông Huấn Loan Báo Tin Mừng, số 20.
[6] Gioan Phaolô II, Tông Huấn Giáo Hội Tại Á Châu, số 20.
[7] Gioan Phaolô II, Sứ Vụ Đấng Cứu Độ, số 52.
[8] Gioan Phaolô II, Sứ Vụ Đấng Cứu Độ, số 52.
[9] Vaticanô II, Gaudium et Spes, số 54.

Thứ Ba, 1 tháng 10, 2013

''Tôi là một người tội lỗi''


9/30/2013 11:11:38 PMĐây là bài viết của tiến sĩ Stephen Bullivant đăng trên tạp chí America. Ông là giáo sư về Thần Học và Luân Lý của Đại Học Saint Mary ở Anh Quốc.
Nội dung nói về lòng khiêm nhường thẳm sâu của Đức Thánh Cha Phanxicô. Sự khiêm nhường không chỉ là “một màn trình diễn” nhưng “thay vào đó, nó diễn tả một niềm xác tín chính yếu của đức tin Kitô giáo.” Bởi vì “Đối với người Kitô hữu, sự héo hon sầu muộn mà người ta cảm thấy vì tội lỗi của mình thì, hoặc phải là, được nâng đỡ với niềm hy vọng vào Đấng “giàu lòng thương xót” (Eph 2,4). Cùng với sự buồn sầu sâu xa vì đã phạm tội, đem đến sự nhận biết giá trị lớn lao của Ngài, Đấng có thể, và sẵn lòng, tha thứ cho chúng ta.”… “Trong cuộc phỏng vấn đáng chú ý của cha Antonio Sparado, Đức Phanxicô đồng hóa mình với thánh Matthêô người thu thuế trong tranh của Caravaggio: “Đó là tôi. Tôi cảm thấy giống như ông ấy… Ở đây, đây là tôi, một kẻ tội lỗi mà Chúa đã đoái nhìn.” Đây là sự khiêm nhường đích thực, cùng một lòng khiêm nhường mà chúng ta thấy nơi một người thu thuế khác trong Phúc Âm –người thu thuế trong Đền Thờ, anh ta la lớn ‘Lạy Chúa, xin thương xót tôi, một người tội lỗi!’ (Lc 18,9-14).”…  

PopeFrancis-29Sep2013-03.jpg



“Jorge Mario Bergoglio là ai?” “Tôi là một người tội lỗi. Đây là sự xác định đúng đắn nhất. Nó không phải là một lối tu từ của lời nói, một thể loại văn học. Tôi là một người tội lỗi.” Đây là những lời mà người đọc có thể dể dàng bỏ qua. Rốt cuộc, sự thú nhận và những hành vi khiêm tốn của Vị Giáo Hoàng của chúng ta đã trở nên một trong những thương hiệu của ngài. Nếu ngài đã không cởi mở với một vài nhận xét tự coi thường mình, thì điều đó có thể là tin tức. Nhưng những người khôn ngoan đang theo dõi Đức Phanxicô có thể nhận biết rằng những mẫu tin đầy bất ngờ -và chắc chắn với vị giáo hoàng nầy, trong cách thức nầy, và với các chi tiết nầy, có thể sẽ có những mẫu tin đầy bất ngờ- có thể sẽ đến sau nầy.

Tuy nhiên, sự khiêm tốn của Đức Phanxicô không phải như của nhóm Uriah Heep (Ban nhạc Rock của Anh, nổi tiếng khoảng thập niên 1970): đơn thuần một màn trình diễn chính thức gọi là “rất khiêm tốn”. Thay vào đó, nó diễn tả một niềm xác tín chính yếu của đức tin Kitô giáo. Như chúng ta đã biết, Hồng y Bergoglio đã chấp nhận sự bầu chọn ngài làm Giáo hoàng với những lời nầy: “Tôi là một người tội lỗi, nhưng tôi tín thác vào lòng thương xót và kiên nhẫn vô bờ của Chúa Giêsu Kitô.” Và những lời thì thầm nầy, tôi đã nhận ra được khi đọc bài phỏng vấn, giúp giải thích rất nhiều những lời phát biểu hóm hỉnh của Đức Thánh Cha.

Đối với người Kitô hữu, sự héo hon sầu muộn mà người ta cảm thấy vì tội lỗi của mình thì, hoặc phải là, được nâng đỡ với niềm hy vọng vào Đấng “giàu lòng thương xót” (Eph 2,4). Cùng với sự buồn sầu sâu xa vì đã phạm tội, đem đến sự nhận biết giá trị lớn lao của Ngài, Đấng có thể, và sẵn lòng, tha thứ cho chúng ta. Vì vậy, những lời của Thư 1 gởi Timôtê chương 1 câu 15 nói: “Đây là lời đáng tin cậy và đáng được mọi người đón nhận: Đức Kitô Giêsu đã đến thế gian, để cứu những người tội lỗi, mà kẻ đầu tiên là tôi”. Hoặc như thánh Phaolô viết trong thư gởi người Roma, “ở đâu tội lỗi đã lan tràn, ở đó ân sủng càng chứa chan gấp bội” (5,20). Từ thánh Phaolô và thánh Augustinô, cho đến thánh nữ Dorothy Day và Mẹ Têrêxa, đó là những vị thánh luôn ý thức cách rất đau buồn về tội lỗi của mình và họ cần đến lòng thương xót Chúa biết bao. Như nữ thánh Gemma Galgani diễn tả: “Hãy nghĩ đến tất cả tội lỗi mà những tội nhân lớn nhất đã phạm, tôi đã phạm nhiều như vậy.”

Nếu “tội lỗi” là một khái niệm đã lỗi thời, chữ mà dường như đã không đụng đến được Nhà Thánh Matta. Đức Phanxicô dùng nó thường xuyên, và không chỉ khi nói cách thẳng thắng về lỗi tội của riêng mình. Ở một nơi nào đó trong cuộc phỏng vấn, ngài nói về “đời sống của một con người” như “một mảnh đất đầy gai góc và cỏ dại,” và -trong khi khai triển thánh Augustinô- phác thảo cái nhìn của ngài về Giáo Hội như một “bệnh viện dã chiến” đang thực hiện việc cấp cứu (“Hãy chữa những vết thương, hãy chữa những vết thương”). Dĩ nhiên, đàng sau mỗi một của những hình ảnh nầy, là một ý tưởng của Tin Mừng: “nhưng nỗi lo lắng sự đời, và bả vinh hoa phú quý” có nguy cơ bóp nghẹt lời của người gieo giống (Mc 4,19), và lời công bố của Đức Kitô, “Người khỏe mạnh không cần thầy thuốc, người đau ốm mới cần. Tôi không đến để kêu gọi người công chính, mà để kêu gọi người tội lỗi” (Mc 2,17).

Vài chủ đề yêu thích của Đức Phanxicô -sự thú nhận, sự hối hận, sự tha thứ- tất cả đều bao hàm tội lỗi, và đau buồn vì nó. Và chính trong những khung cảnh nầy mà ngài đã đưa ra những nhận xét có thể làm tiêu đề bắt mắt nhất của mình. Những bình luận có tính “đột phá” của ngài trên tờ La Repubblica về sự cứu độ của người vô thần (cách tình cờ, một khả năng được xác định rõ ràng bởi Vatican II khoảng 50 năm trước) đã được mở lối bởi nhận xét “nền tảng” rằng “Lòng thương xót của Thiên Chúa thì vô hạn nếu ai xin thương xót với sự thống hối và lòng chân thành.” Và trong cuộc phỏng vấn của tờ America, sự chăm sóc mục vụ cho “một người phụ nữ với hôn nhân thất bại trong quá khứ và cô cũng đã phá thai” đã được đưa ra ánh sáng về “ích lợi lớn lao của phép giải tội… trong khi đánh giá từng trường hợp và phân biệt điều gì là cái tốt nhất cho một người tìm kiếm Thiên Chúa và ân sủng.” Điều ý nghĩa là Đức Thánh Cha không chỉ chỉ trích những cha giải tội nhiệm nhặt, nhưng ngài cũng trách những người “quá dễ dải”, họ “rửa tay của mình bằng cách nói ‘Cái nầy không phải là tội’”. Bệnh viện dã chiến của Đức Phanxicô, cũng như chuyên viên y tế của nó, thì ở đó để chữa thị vết thương, không phủ nhận sự có mặt của chúng.

Đối với chúng ta, dường như Đức Phanxicô rất thích “nói về những vấn đề trong khung cảnh.” Và đối với người Kitô hữu, tất cả lời nói về tội lỗi được khoanh vùng trong một khung cảnh rất rõ ràng -rằng có một Người hiện hữu “Đấng có thể tha thứ mọi sự, tha thứ tất cả và cho tất cả mọi người, bởi vì chính Ngài đã đổi máu vô tội để lấy tất cả và lấy mọi sự.” Những lời đó được rút ra từ cuốn Anh Em Nhà Karamazov của Dostoevsky, một tác giả mà chúng ta biết Đức Thánh Cha “rất yêu thích.” Hơn thế nữa, ý tưởng căn bản nầy đã là một lời dạy dỗ được lặp đi lặp lại thuộc huấn quyền của Đức Phanxicô: “Thiên Chúa thì lớn hơn tội lỗi” (trong phỏng vấn của tờ America); “sự tha thứ của Thiên Chúa thì lớn hơn bất kỳ tội lỗi nào” (trong thư trên tờ La Repubblica). Nhưng đối với Đức Phanxicô cũng như Dostoevsky không hề có một ám chỉ nào về “ân sủng rẻ rúng” trong bất cứ ý gì của điều nầy. Đức Phanxicô đã nói một lần trong một bài giảng lễ sáng sớm: “Sự hổ thẹn là một nhân đức Kitô giáo thực sự”. Như thánh Dorothy Day (một người hâm mộ Dostoevsky khác) thích trích dẫn Anh Em Nhà Karamazov: “Tình yêu trong hành động là một điều cay nghiệt và kinh khiếp so với tình yêu trong mơ.”

Trong cuộc phỏng vấn đáng chú ý của cha Antonio Sparado, Đức Phanxicô đồng hóa mình với thánh Matthêô người thu thuế trong tranh của Caravaggio: “Đó là tôi. Tôi cảm thấy giống như ông ấy… Ở đây, đây là tôi, một kẻ tội lỗi mà Chúa đã đoái nhìn.” Đây là sự khiêm nhường đích thực, cùng một lòng khiêm nhường mà chúng ta thấy nơi một người thu thuế khác trong Phúc Âm –người thu thuế trong Đền Thờ, anh ta la lớn ‘Lạy Chúa, xin thương xót tôi, một người tội lỗi!’ (Lc 18,9-14). Chỉ có người thật sự cần đến lòng thương xót mới có thể loan báo, với niềm vui và sự khuây khỏa, rằng “Đức Giêsu Kitô, Chúa chúng ta, đã ban cho tôi đầy tràn ân sủng, cùng với đức tin và đức mến của một kẻ được kết hợp với Người” (1 Tim 1,14). Đây là “Tin Mừng” –điều mà Đức Phanxicô muốn nói khi ngài nói về “sự công bố đầu tiên…sự công bố về ơn cứu độ,” điều mà “không có gì khả tín, sâu thẳm và chắc chắn hơn.” Và đây, ít nhất là một lần, thật sự là một mẫu tin đầy bất ngờ đáng được làm tiêu đề, bây giờ cũng không kém hơn gần hai ngàn năm trước.


(XT, XBVN 30-09-2013 / America Magazine)

Chủ Nhật, 22 tháng 9, 2013

Văn hoá nhặt rác


Mình đem con sang Úc từ tuổi học mẫu giáo. Những gì nó được học từ nhỏ cũng dạy cho mình được nhiều điều. Mình viết ra những suy nghĩ này về những gì mình thấy tận mắt ở nước ngoài và những gì đang thấy ở trong nước.
Khi dẫn con đi chơi ngoài phố nếu nó nhìn thấy có tý rác trên đường là nó cũng cúi xuống nhặt rồi tìm cho ra chỗ để bỏ vào thùng rác mới thôi. Thấy con biết tự giác ở nhà, mình hài lòng lắm, nhưng mà cả những khi đang đi chơi ở đâu, nó cũng cứ nhặt rác giữa đường như thế nên mình mới lấy làm lạ. Hỏi thì được nghe nó bảo là cô giáo dạy thế.
Một cậu bé 4 tuổi đang nhặt rác trên đường. Hình minh hoạ. Nguòn: 123rf.com
Trẻ con tuổi này được cô giáo dạy từ lời ăn, tiếng nói đã đành, lại còn được rèn giũa ý thức “phải nhặt rác” ở trường học, ở nhà và cả ở ngoài đường phố nữa. Trong những đợt trường cho các cháu đi chơi hoặc đi dã ngoại, đều có mục cho bọn trẻ thu rác. Các cháu được trang bị găng tay, khẩu trang, đội mũ, được phân công làm sạch từng khu vực nơi vui chơi. Có tới vài chục cháu nhỏ, nhưng khi kết thúc chuyến đi chơi ra khỏi nơi nào là nơi ấy chắc chắn không có một tý rác nào để lại.
Các cháu được dạy phải bỏ rác đúng nơi quy định, nếu không thấy thùng rác thì phải gói rác trong bọc nilông mang lên xe, hoặc xách tay đem về nhà chứ không được vứt lung tung. Ngay cả trước khi cả nhà lên đường đi đâu đó, cháu cũng nhắc người lớn đừng quên mang theo túi để đựng rác. Bây giờ ở Hà Nội và Sài Gòn, thỉnh thoảng cũng thấy tụi nhỏ học trường quốc tế và các thầy cô giáo người nước ngoài đeo găng tay đi nhặt rác trên đường phố làm cho người ta lạ lắm!
Bọn trẻ đi nhặt rác như ngày hội hoạt động ngoài trời hứng thú, thì tự nhiên sẽ thấm nhuần việc không được xả rác ra đường. Thói quen đó sẽ trở thành hành trang cho các em khi trưởng thành. Nếu trường học của chúng ta cũng rèn học sinh làm thế thì đường phố của chúng ta sẽ bớt rác đi nhiều.
Bây giờ ở Việt Nam thấy nhiều người bình thản xả rác, ngay cả những nơi thùng rác có đó, nhưng trong thùng thì rỗng không, rác vẫn đầy khắp nơi ngay xung quanh thùng! Đi đâu ở nước ta từ nông thôn đến thành thị đều thấy rác hiện diện. Những nơi xây dựng đô thị mới có vẻ tận dụng hết đất làm nhà, không để ý khu tập kết rác, hành trình thu rác và cơ sở xử lý rác. Những công trình phục vụ “rác” không làm ra tiền, mà làm tăng chi phí công trình cho nhà đầu tư nên không được quan tâm là điều dễ hiểu. Những người có trách nhiệm thì hoặc là vì xa rời thực tế, hoặc là vì quá bận bịu với những trách nhiệm tầm cao, nên không coi trọng vấn đề ở tầm…dưới đất!
Thản nhiên xả rác ra đường. Hình minh hoạ. Nguồn: moitruongxanh.org.vn
Có dịp ngồi chuyện trò với vài người kiến trúc sư được giao trách nhiệm thiết kế chợ ở địa phương, thấy họ quan tâm tính toán chia lô, khoanh chỗ làm gian hàng để bán và để cho thuê nhằm đạt lợi nhuận tối đa cho nhà thầu, không để ý dành diện tích cho việc bỏ rác, tập kết rác, chuyển rác. Bởi vậy nên khi chợ mới xây xong trông khang trang, khi đưa vào hoạt động, bà con cứ thế đổ rác ra quốc lộ! Công nhân môi trường đến giờ tan tầm mới mang xe tới dọn rác, thế là chợ mới bớt đẹp vì ai cũng ta thấy núi rác lù lù cả ngày giữa mặt tiền!
Các gia đình chúng ta lau nhà rất kỹ, guốc dép bỏ ra ngoài, nhà ai cũng chật chội nên sàn nhà là nơi sinh hoạt cho cả gia đình, lúc nào cũng phải giữ sạch sẽ. Nhưng ống cống đổ nước thải lại đưa thẳng ra lối đi chung, rác cũng quét ra đường, túi rác gia đình cũng vất ra đường, ai cũng làm thế cả nên đó là chuyện bình thường.  Hầu như ai cũng cho rằng chuyện rác không phải là việc của mình. Vì quan niệm của người dân cho đó là trách nhiệm của bên môi trường đô thị, cho nên những công nhân quét đường và dọn rác phải làm việc thật cực nhọc và luôn trong tình trạng quá tải. Dù người dọn vệ sinh đông đến mấy đi nữa cũng không làm sao kịp chuyển đi lượng rác khổng lồ đang được người người, nhà nhà tống ra đường mỗi lúc mỗi nơi. 
Phản tác dụng! Hình minh hoạ. Nguồn: nld.com.vn
Bỏ mặc việc rác cho ai đó cũng là nguợc với với trào lưu ngày nay trong cộng đồng. Ngay tại các nước châu Á, thật ấn tượng thấy cách người ta xử lý rác. Người Nhật ở nông thôn và tỉnh nhỏ dọn sạch đoạn đường phía trước nhà mình, “cất” rác vào nhà để xử lý theo hệ thống thu gom công cộng. Ở Đài Loan có nhiều loại xe chở rác, xe lớn tới đường lớn, xe nhỏ vào hẻm nhỏ, hẻm bé nữa thì có cái xe bé bằng xe lam thu rác theo giờ cố định. Người dân không bỏ rác ra đường, mà tới giờ xe qua thì mang túi rác ra “nộp”. Xe rác được sơn màu sáng vui mắt, phát tiếng nhạc êm dịu, công nhân nhặt rác mặc đồng phục chỉnh tề. Ngay cả những thành phố nhỏ trên đảo ở Philippine, xe rác không bóp còi hoặc gõ kẻng, nhưng cứ tới giờ đó là xuất hiện với tiếng chào hỏi vồn vã “hello, hello” của những công nhân theo xe rác. Họ cũng khiêng vác nặng nhọc, cũng chạy tới lui giúp cư dân bỏ rác lên xe, cũng mồ hôi mồ kê nhễ nhại trong nắng hè như ở ta, nhưng cái riêng của người Philippine là lúc nào cũng sẵn nụ cười, rồi khi xe đi lúc nào cũng “bye bye” vui vẻ.
Ở Singapore thì áp dụng lệnh cấm không cho nhập khẩu và kinh doanh buôn bán kẹo cao su, không cho khách du lịch mang kẹo cao su vào nước họ, để triệt hết đầu cung cấp, vì mục tiêu giữ cho đường phố không  bị dính bã kẹo cao su. Mới nghe thì thấy chính sách ấy có vẻ khắc nghiệt, nhưng khi thấy đường phố của họ chỗ nào cũng sạch đẹp thì mới hiểu.
Du khách không được đem chewing gum vào Singapore. Hình minh hoạ.
Nhìn lại ở mình dù là trong nhà hát, nơi quảng trường, nơi công viên hoặc đường phố ở đâu cũng dây đầy vết đen từ bã kẹo cao su dính lại. Các công trình nhà ở cũng thế, từ cầu thang  lối đi trong các tòa nhà cao cấp ra đến ngoài đường đều lem nhem nhuốm bẩn do rác, do đủ thứ gây bẩn. Để ý thấy các quán ăn nhà hàng dù có để thùng rác, nhưng khách vẫn thản nhiên vứt giấy ăn, bỏ xương, vứt rác xuống sàn. Những nhà hàng nào thấy sàn nhà càng trắng xóa rác rưởi tức là nơi ấy đông khách lắm đấy! Những làng xóm ven đường lộ và đường xe lửa mới càng khủng khiếp, vì ngoài lượng rác tại chỗ chưa biết đổ đi đâu, còn phải tiếp nhận số rác xả xuống từ xe đò và xe lửa chạy ngang địa phương ấy.
Nhìn những đống rác ở nông thôn thì thấy rõ là người dân tiện đâu bỏ đó. Phong cảnh đồng quê xinh đẹp bị nhuốm bẩn bởi những cái bịch nilông và rác rưởi mắc ngang cành cây, bay phất phơ trên ngọn cỏ, nổi lềnh bềnh nơi ao hồ và vương vãi cả ở ngoài đồng. Thế mới thấy vấn nạn của thời hiện đại tại nông thôn cũng ghê gớm chẳng kém gì nơi đô thị.  Các vị chủ khách sạn và chủ tàu bè tại các khu du lịch than rằng ngại đón khách nội địa vì người ta cứ thích đem theo đồ ăn đồ uống, dùng xong là xả rác, bỏ vỏ hộp, vỏ thùng khắp nơi, làm cho việc dọn dẹp mất nhiều công sức.
Đất nước chúng ta có nhiều cảnh thiên nhiên ngoạn mục, nhưng khách du lịch đi đến nhiều nơi không hiếm cảnh phải nín thở tìm đường thoát vì mùi hôi của xú uế, kể cả ở những nơi thiêng liêng như đình chùa và nơi chiêm bái cũng không phải là ngoại lệ.  
Một người nước ngoài “chăm chỉ” nhặt rác tại Hồ Gươm vào mỗi sáng Chủ Nhật. Nguồn: Internet.
Mình về hưu ở chung cư trong thành phố nhỏ, thấy rác nhiều quá nên mình từng đứng ra nói mọi người tham gia dọn rác tại chung cư vào ngày cuối tuần như việc làm tự nguyện. Ý tưởng này là do hồi còn bên Úc, mình thỉnh thoảng cũng tham gia với các phụ huynh làm công ích cho trường của con trong những dịp cuối tuần. Mình đã tưởng đó là việc làm hay, cứ “gương mẫu làm đầu tầu” thì thế nào cũng sẽ được mọi người ở hưởng ứng, nhưng thật không ngờ lại bị người ta mắng cho mới khổ chứ!
Những người đã không tham gia còn bảo “chung cư đã có nhân viên vệ sinh, vẽ chuyện làm gì.” Mình làm việc ấy đúng một lần, nhưng vẫn hy vọng sẽ làm nữa để giúp tạo thành nếp “công ích” cho chung cư.  Nhưng khi mình có lời với bà con hàng xóm để tiếp tục thì được nhắc nhở là phải được phép của tổ trưởng dân phố, hoặc phải thông qua chi bộ phường xóm, hoặc phải trình bày với hội phụ nữ, hoặc xin hội phụ lão vì “làm gì cũng phải có tổ chức”, chứ cứ tự nhiên đi vận động bà con thế này thế nọ là không được đâu. Nản quá, mình đành bỏ cuộc.
Kêu ca thì dễ, cơ sở hạ tầng không thể có ngay, bỏ công sức ra tự làm cũng không xong, có lẽ việc này phải bắt đầu từ khâu giáo dục ý thức con người.
Có thùng rác cũng như không. Hình minh hoạ. Nguồn: vietpress.vn
Giáo dục trẻ từ tuổi nhỏ, trong nhà trường như là giáo dục ý thức công dân là việc làm được ngay mà không phải đầu tư gì tốn kém. Chỉ cần bớt đi những nội dung giáo dục vô bổ, sẽ dành được thời gian rèn cho trẻ có thói quen tốt với bản thân, với gia đình và xã hội trong vấn đề rác. Còn hiện trạng thì cơ sở hạ tầng thu gom rác ở khắp nơi đều rất thiếu, việc giáo dục đã yếu lại nặng về hình thức, không chú trọng tới những yêu cầu thiết yếu của đời sống.
Hành động xả rác thiếu suy nghĩ của con người đang xảy ra ở tất cả mọi nơi, thậm chí mình thấy các vị cha mẹ còn xui con đổ rác ra đường, quẳng rác đi đâu cũng được, kể cả vứt sang nhà hàng xóm, thì khó hi vọng chúng ta có môi trường vệ sinh sạch sẽ trong tương lai. Bây giờ đang “bó tay” thế này thì chúng ta còn phải sống chung với rác lâu đấy. 
Nỗi khổ chẳng của riêng ai, chúng ta không những đang làm ô nhiễm môi trường nơi mình đang sống, mà cả khi một số người Việt ra nước ngoài cũng mang theo thói quen vứt rác lung tung, trở thành hình ảnh người Việt xấu xí trong mắt người ta, thì thật là xấu hổ quá.
Kim Chi

Thứ Hai, 15 tháng 7, 2013

Sau học vị tiến sĩ, hãy học làm người

 HỌC LÀM NGƯỜI

Đại sư Tinh Vân có một người đệ tử, sau khi tốt nghiệp đại học liền học thạc sĩ, rồi lại học tiến sĩ, sau nhiều năm đèn sách cuối cùng cũng đã hoàn thành luận án tiến sĩ nên vô cùng mừng vui. 
Một hôm người đệ tử này trở về, thưa với Đại sư: Thưa thầy nay con đã có học vị tiến sĩ rồi, sau này con phải học những gì nữa? 
Ngài Tinh Vân bảo: Học làm người, học làm người là việc học suốt đời chẳng thể nào tốt nghiệp được.
1. Thứ nhất, “học nhận lỗi”. Con người thường không chịu nhận lỗi lầm về mình, tất cả mọi lỗi lầm đều đổ cho người khác, cho rằng bản thân mình mới đúng, thật ra không biết nhận lỗi chính là một lỗi lầm lớn.

Thầy chùa,thây tu,khoa hoc và cuộc sống,ảnh đẹp,hình hot,văn học,âm nhac,giải trí,truyện ngắn,truyện cười
2. Thứ hai, “học nhu hòa”. Răng người ta rất cứng, lưỡi người ta rất mềm, đi hết cuộc đời răng người ta lại rụng hết, nhưng lưỡi thì vẫn còn nguyên, cho nên cần phải học mềm mỏng, nhu hòa thì đời con người ta mới có thể tồn tại lâu dài được. Tâm nhu hòa là một tiến bộ lớn trong việc tu tập.
3. Thứ ba, ” học nhẫn nhục”. Thế gian này nếu nhẫn được một chút thì sóng yên bể lặng, lùi một bước biển rộng trời cao. Nhẫn, vạn sự được tiêu trừ. Nhẫn chính là biết xử sự, biết hóa giải, dùng trí tuệ và năng lực làm cho chuyện lớn hóa thành nhỏ, chuyện nhỏ hóa thành không.

4. Thứ tư, “học thấu hiểu”. Thiếu thấu hiểu nhau sẽ nảy sinh những thị phi, tranh chấp, hiểu lầm. Mọi người nên thấu hiểu thông cảm lẫn nhau, để giúp đỡ lẫn nhau. Không thông cảm lẫn nhau làm sao có thể hòa bình được?
5.  Thứ năm, “học buông bỏ”. Cuộc đời như một chiếc vali, lúc cần thì xách lên, không cần dùng nữa thì đặt nó xuống, lúc cần đặt xuống thì lại không đặt xuống, giống như kéo một túi hành lý nặng nề không tự tại chút nào cả. Năm tháng cuộc đời có hạn, nhận lỗi, tôn trọng, bao dung, mới làm cho người ta chấp nhận mình, biết buông bỏ thì mới tự tại được!
 
6. Thứ sáu, “học cảm động”. Nhìn thấy ưu điểm của người khác chúng ta nên hoan hỷ, nhìn thấy điều không may của người khác nên cảm động. Cảm động là tâm thương yêu, tâm Bồ tát, tâm Bồ đề; trong cuộc đời mấy mươi năm của tôi, có rất nhiều câu chuyện, nhiều lời nói làm tôi cảm động, cho nên tôi cũng rất nỗ lực tìm cách làm cho người khác cảm động.
7.  Thứ bảy, “học sinh tồn”. Để sinh tồn, chúng ta phải duy trì bảo vệ thân thể khỏe mạnh; thân thể khỏe mạnh không những có lợi cho bản thân, mà còn làm cho gia đình, bạn bè yên tâm, cho nên đó cũng là hành vi hiếu đễ với người thân.